Vô Thanh
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: không có âm thanh, không có tiếng. Trong Thi Kinh có câu: “Thượng thiên chi tải, Vô Thanh vô xú (上天之載、無聲無臭, trên trời chở che, không tiếng không hôi).” Vô Thanh còn là một Công Án trong Thiền Tông, như câu chuyện Phó Đại Sĩ (傅大士) giảng Kinh Kim Cang (金剛經) cho Lương Võ Đế (梁武帝). Sau khi thăng tòa, ông dùng cây thủ xích vỗ xuống bàn một cái, xong bước xuống tòa và trở về Phương Trượng. Khi ấy, Bảo Chí (寶誌) đứng một bên bảo rằng: “Đại Sĩ giảng kinh xong rồi !” Cũng như trường hợp Tu Bồ Đề (s, Pāli: Subhūti 須菩提) đang ngồi an tọa trong hang động, bỗng nhiên Thích Đề Hoàn Nhân (釋提恒因) rưới mưa hoa cúng dường. Thấy vậy, Tu Bồ Đề hỏi rằng: “Tại sao vì tôi mà rãi hoa ?”. Đế Thích đáp: “Tôi tôn kính người, khéo thuyết Bát Nhã, nên rưới mưa hoa cúng dường.” Tu Bồ Đề bảo rằng: “Tôi chưa từng Thuyết Pháp mà !” Đế Thích trả lời: “Người không thuyết, tôi không nghe, đó chính là cốt tủy Chân Thật của Bát Nhã.” Trong Pháp Hỷ Chí (法喜志) quyển 2 có đoạn rằng: “Hữu thanh chi thời, thị thanh trần tự sanh; Vô Thanh chi thời, thị thanh trần tự diệt; nhi thử văn tánh, bất tùy thanh sanh, bất tùy thanh diệt (有聲之時、是聲塵自生、無聲之時、是聲塵自滅、而此聞性、不隨聲生、不隨聲滅, khi có tiếng thì tiếng nghe tự sanh; khi không có tiếng thì tiếng nghe tự diệt; cho nên tánh nghe này không theo tiếng mà sanh, chẳng theo tiếng mà diệt).”