Từ Hàng

《慈航》 cí háng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: thuyền từ; chư Phật, Bồ Tát lấy tâm từ bi cứu độ Chúng Sanh, giống như thuyền bè đưa người thoát ly biển khổ Sanh Tử. Trong bài thơ Khai Thiện Tự Pháp Hội () của Tiêu Thống (, 501-531) nhà Lương thời Nam Triều có câu: “Pháp Luân minh ám thất, tuệ hải độ Từ Hàng (, xe pháp sáng nhà tối, biển tuệ độ thuyền từ).” Hay trong Bài Vị Thôn Thối Cư Ký Lễ Bộ Thôi Thị Lang Hàn Lâm Tiền Xá Nhân Thi Nhất Bách Vận (退) của Bạch Cư Dị (, 772-846) nhà Đường cũng có câu: “Đoạn si cầu tuệ kiếm, tế khổ đắc Từ Hàng (, đoạn ngu cầu kiếm tuệ, cứu khổ được thuyền từ).” Trong Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự (, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1464) có bài tán Thán Đức Phật Di Đà rằng: “A Di Đà Phật, vô thượng y vương, nguy nguy Kim Tướng phóng hào quang, Khổ Hải tác Từ Hàng, Cửu Phẩm Liên Bang, đồng nguyện vãng Tây phương (西, A Di Đà Phật, cao tột y vương, lồng lộng tướng báu phóng hào quang, biển khổ làm từ thuyền, Chín Phẩm Cõi Sen, cùng nguyện qua Tây phương).”