Tứ Châu
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: catvāro dvīpāḥ, Pāli: cattāro dīpā: theo Thế Giới quan của Ấn Độ thời cổ đại cho rằng bốn phương núi Tu Di (Sanskrit: Sumeru 須彌山), trong biển lớn giữa Thất Kim Sơn (七金山) và Đại Thiết Vi Sơn (大鐵圍山) có 4 châu lớn. Căn cứ vào Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記) quyển 1, Câu Xá Luận Quang Ký (倶舍論光記) quyển 8, v.v, 4 châu lớn này là (1) Đông Thắng Thân Châu (Sanskrit: Pūrva-videha, 東勝身洲): xưa gọi là Đông Phất Bà Đề (東弗婆提), Đông Tỳ Đề Ha (東毘提訶), hay Đông Phất Vu Đãi (東弗于逮), gọi tắt là Thắng Thân (勝身), do vì người ở châu này có thân hình Thù Thắng nên có tên gọi như vậy, địa hình nơi đây như mặt trăng một nửa, mặt người cũng như nửa mặt trăng; (2) Nam Thiệm Bộ Châu (Sanskrit: Jampudīpa, 南贍部洲), tên gọi ngày xưa là Nam Diêm Phù Đề (南閻浮提), từ Thiệm Bộ (Sanskrit: jampu, 贍部) nguyên là âm dịch tên gọi của loại cây Bồ Đào, cho nên châu này lấy cây này đặt thành tên, địa hình của nó như thùng xe, và mặt người cũng như vậy; (3) Tây Ngưu Hóa Châu (Sanskrit: Apara-godhānīya, 西牛貨洲), xưa gọi là Tây Cù Da Ni (西瞿耶尼), do vì nơi đây người ta dùng trâu bò để giao dịch mua bán nên có tên gọi như vậy, địa hình của nó tròn như mặt trăng và khuôn mặt con người cũng vậy; và(4) Bắc Cu Lô Châu (Sanskrit: Uttara-kuru, 北倶盧洲), xưa gọi là Bắc Uất Đơn Việt (北鬱單越), Cu Lô nghĩa là nơi tuyệt vời, Thù Thắng, cho nên có tên như vậy, địa hình vuông vức như ao hồ, và mặt người cũng như vậy.