Truy Viễn Thận Chung

《追遠愼終》 zhuī yuǎn shèn zhōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: hay thận chung truy viễn (), cẩn chung truy viễn (). Chung () nghĩa là tang lễ của cha mẹ, viễn () là ý chỉ tổ tiên xa xưa trước kia. Thận chung () nghĩa là theo lễ nghi mà thận trọng xử lý việc tang lễ của cha mẹ. Truy viễn ()Cung Kính, thành tâm lo việc cúng tế ông bà tổ tiên. Đây là việc làm hiếu đạo mà làm người cần phải thực hiện trọn vẹn, chu toàn. Câu này vốn phát xuất từ trong Luận Ngữ (), chương Học Nhi (): “Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hỉ (, thận trọng lo tang lễ cho cha mẹ, kính thành lo cúng tế tổ tiên, tất phong tục dân tình sẽ quay về thiện lương).” Như trong bài Đường Cố Hạ Châu Đô Đốc Thái Nguyên Vương Công Thần Đạo Bia () của Trương Thuyết (, 667-730) nhà Đường có câu: “Giai đốc hành thuần hiếu, thận chung truy viễn (, đều dốc lòng làm việc hiếu, lo tang cha mẹ và thờ cúng tổ tiên).” Hay trong tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (西), phần Ấn Độ Tổng Thuật () của Huyền Trang (, 602-664) nhà Đường cũng có câu: “Xuất Gia Tăng Chúng, chế vô hiệu khốc, phụ mẫu vong tang, tụng niệm thù ân, Truy Viễn Thận Chung, thật tư minh phước (, Tăng Chúng Xuất Gia, Phật chế không được khóc lóc, khi có tang cha mẹ mất, nên tụng niệm để báo ơn, lo tang cha mẹ và cúng tế tổ tiên, vậy mới thật sự tích lũy phước đức).”