Trung Phong Minh Bổn

《中峰明本》 zhōng fēng míng běn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Chūhō Myōhon, 1263-1323: vị tăng của Phái Dương Kì và Phá Am thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, xuất thân Tiền Đường (), Hàng Châu (, Tỉnh Triết Giang), họ Tôn (), hiệu Trung Phong (). Lúc còn nhỏ, ông đã đến Tham Học với Cao Phong Nguyên Diệu () ở Sư Tử Nham () trên Tây Thiên Mục Sơn (西), đọc Kinh Kim Cang, cảm nhận được sứ mạng Như Lai và đến năm 24 tuổi thì Xuất Gia với vị này. Sau đó, nhân nhìn thấy suối nước chảy mà khai ngộ rồi kế thừa dòng pháp của Cao Phong. Từ đó trở đi, ông không định cư, khi thì sống trên thuyền, có khi sống trong túp lều tranh đơn sơ và tự xưng là Huyễn Trú (, sống tạm bợ). Chúng tăng tục tập trung đến chiêm lễ và gọi ông là Cổ Phật Giang Nam. Vào năm thứ 5 (1318) niên hiệu Diên Hựu (), Nhân Tông Hoàng Đế có hạ chiếu chỉ mời, nhưng ông không nhận lời nên nhà vua ban cho ông y Ca Sa tơ vàng và hiệu là Phật Từ Viên Chiếu Quảng Huệ Thiền Sư (). Đến thời vua Anh Tông cũng quy y theo ông. Vào ngày 14 tháng 8 năm thứ 3 niên hiệu Chí Trị (), ông Thị Tịch, hưởng thọ 61 tuổi. Sau khi qua đời được 7 năm, vua Văn Tông lại ban cho ông Thụy Hiệu là Trí Giác Thiền Sư (). Lại nữa, 5 năm sau vua Thuận Tông cho đưa vào Đại Tạng Kinh bản Trung Phong Quảng Lục () 3 quyển và ban thêm cho Thụy Hiệu là Phổ Ứng Quốc Sư (). Trước tác của ông có Huyễn Trú Am Thanh Quy () 1 quyển, Nhất Hoa Ngũ Diệp () 5 quyển, v.v. Tổ Thuận () soạn ra Hành Lục () và Ngu Tập () soạn văn bia tháp.