Tông Phong Diệu Siêu

《宗峰妙超》 zōng fēng miào chāo

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Shūhō Myōchō, 1282-1337: vị Thiền Tăng của Phái Đại Ứng () thuộc Lâm Tế Tông, vị Tổ khai sáng Đại Đức Tự (, Daitoku-ji) và Phái Đại Đức Tự (), người vùng Bá Ma (, Harima, thuộc Hyōgo-ken []), húy là Diệu Siêu (, Myōchō), thường được gọi là Đại Đăng Quốc Sư (, Daitō Kokushi), đạo hiệu là Tông Phong (, Shūhō), và Thụy Hiệu là Hưng Thiền Đại Đăng Quốc Sư (), Cao Chiếu Chánh Đăng Quốc Sư (), Đại Từ Vân Khuông Chơn Quốc Sư (); họ là Kỷ (). Năm lên 11 tuổi, ông theo Xuất Gia với Luật Sư Giới Tín () ở Thư Tả Sơn Viên Giáo Tự () và học về Thiên Thai giáo học. Sau đó ông đến tham vấn Cao Phong Hiển Nhật () ở Vạn Thọ Tự (, Manju-ji) thuộc vùng Liêm Thương. Vào năm thứ 3 (1305) niên hiệu Gia Nguyên (), nhân khi Nam Phố Thiệu Minh () từ vùng Trúc Tiền (, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken []) lên kinh đô và sống ở Thao Quang Am (), ông đến đó tham vấn, kế đến ông đi theo hầu Nam Phố lên Vạn Thọ Tự, rồi đến Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji), hết mình chuyên tâm nghiên cứu và cuối cùng thì Liễu Ngộ được yếu chỉ, nên được Am Phố Ấn Khả cho, lúc ấy ông 26 tuổi. Đến năm 1308, Nam Phố qua đời thì ông trở về Kinh Đô, rồi sống ẩn cư ở Vân Cư Tự () trong vòng khoảng 20 năm. Đến năm đầu (1226) niên hiệu Gia Lịch (), ông đến Tử Dã (, Murasakino, thuộc Jokyo-ku [], Kyoto-fu []), dựng thảo am mà sống. Sau đó, một số các bậc vua chúa, công khanh như Hậu Đề Hồ Thiên Hoàng (, Godaigo Tennō), Xích Tùng Tắc Thôn (, Akamatsu Norimura), v.v., quy y theo, nhờ đó ông xây dựng thành ngôi chùa lấy tên là Long Bảo Sơn Đại Đức Tự (), và thỉnh ông làm vị Tổ Khai Sơn chùa này. Hoa Viên Thượng Hoàng (, Hanazono Jōkō) cũng nhân nghe Đạo Phong của ông, mới triệu thỉnh ông đến để hỏi pháp, rồi ban cho ông hiệu là Hưng Thiền Đại Đăng Quốc Sư. Từ đó, Đại Đức Tự được xếp ngang hàng với Nam Thiền Tự (, Nanzen-ji). Về sau, thể theo lời thỉnh cầu của vị quan ở Thái Tể Phủ là Đại Hữu Lại Thượng (), ông chuyển đến ở tại Sùng Phước Tự (, Sūfuku-ji), nhưng chẳng được bao lâu thì ông lại trở về kinh đô sống ở Đại Đức Tự. Vào ngày 23 tháng 12 năm thứ 3 niên hiệu Diên Nguyên (), ông Thị Tịch, hưởng thọ 56 tuổi đời và 34 Pháp Lạp. Các trước tác của ông để lại có Đại Đăng Quốc Sư Ngữ Lục () 3 quyển, Pháp Ngữ (), Bích Nham Tập Hạ Ngữ () 1 quyển, v.v. Pháp từ của ông có Quan Sơn Huệ Huyền (), Triệt Ông Nghĩa Hanh (), Hải Ngạn Liễu Nghĩa (), Hổ Khê Đạo Nhâm (), v.v. Vào năm thứ 3 (1686) niên hiệu Trinh Hưởng (), Linh Nguyên Thiên Hoàng (, Reigen Tennō) ban tặng thêm cho ông Thụy Hiệu là Đại Từ Vân Khuông Chơn Quốc Sư.