Tịnh Độ Chơn Tông

《淨土眞宗》 jìng tǔ zhēn zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Jōdoshin-shū: tên gọi của một Tông Phái thuộc Tịnh Độ giáo do Thân Loan (, Shinran) sáng lập. Vào năm đầu (1201) niên hiệu Kiến Nhân (), sau khi từ bỏ Thánh Đạo Giáo tự lực, Thân Loan quy y theo Tịnh Độ Giáo Tha Lực dưới trướng của Pháp Nhiên Phòng Nguyên Không (, Hōnenbō Genkū). Tin tưởng vào Pháp Môn Chuyên Tu Niệm Phật do Nguyên Không khải sáng, ông có ý muốn tự mình lập ra một Tông Phái riêng. Tịnh Độ Chơn Tông là cách xưng hô do Thân Loan đặt ra theo Tông Chỉ của Nguyên Không. Trong Cao Tăng Hòa Tán (), ông có khẳng định rằng: “Từ sức mạnh của ánh sáng trí tuệ, bổn sư Nguyên Không hiện ra, khai mở Tịnh Độ Chơn Tông, theo chân Tuyển Trạch Bổn Nguyện”. Tông Phái này cũng theo giáo lý của Nguyên Không, nhưng lập trường tôn giáo của Thân Loan cũng được thể hiện qua tác phẩm Giáo Hành Tín Chứng () và ông nhấn mạnh rằng nhờ tin vào Bản Nguyện của đức Phật A Di Đà mà được cứu độ. Ông cho rằng ngay cả người ác cũng là đối tượng cứu độ của ngài. Cũng có trường hợp ông ví những người ác đó là giai cấp xã hội đặc biệt như võ sĩ, thương nhân hay người đánh cá, thợ săn, v.v., để họ có thể hiểu được lập trường của ông. Trong Chánh Tượng Mạt Hòa Tán (), ông khẳng định rằng: “Nếu quay về với Tịnh Độ Chơn Tông, bằng tất cả tâm Chân Thật, cái hư giả không thật nơi thân ta đây, cũng trở thành tâm Chân Thật”. Cho nên chính bản thân ông cũng tự xem mình là kẻ ác không có Tâm Thanh Tịnh và hết thảy tồn tại, Hành Vi của Thế Giới hiện thực đều là hư giả. Ngay từ trong cái hư giả ấy, cần phải tìm cầu cái Chân Thật thông qua sự tự giác và đáp ứng sự khẩn thỉnh đó đấng Chân Thật là đức Phật A Di Đà xuất hiện. Trong Thán Dị Sao (), ông đã nói về yếu chỉ Cơ Duyên của người ác rằng: “Chúng ta những kẻ đầy đủ Phiền Não, trong bất cứ việc làm nào, đều ngầm chứa đựng mầm Sanh Tử; nếu với bổn ý mà Phát Khởi Nguyện Lực, để cho người ác cũng được Thành Phật, người ác nương tựa vào Tha Lực, sẽ trở thành nhân chính để Vãng Sanh; người tốt nếu được Vãng Sanh, người ác cũng vậy thôi”. Những người Niệm Phật lấy nhân cách và giáo thuyết của Thân Loan làm trung tâm, dần dần gia tăng và bắt đầu nhân giống cho việc hình thành giáo đoàn. Tuy nhiên, ông lại tuyên bố rằng “Thân Loan ta không có một người Đệ Tử nào (Thán Dị Sao)” để phủ định mối quan hệ giữa thầy và Đệ Tử. Tự thân ông cho rằng những người cùng Niệm Phật là “Đồng Hành đồng bạn” để phủ định việc cấu thành giáo đoàn theo quan hệ thầy trò trên dưới. Tuy nhiên, vào cuối đời Thân Loan, Thiện Loan (, Zenran), con trai của ông và cũng là người được xem như kế thừa cha mình, đã phản lại lời dạy của cha, tạo nên sự kiện làm hỗn loạn giáo đoàn Đông Quốc (, Tōgoku). Nhân đó, Thân Loan bắt đầu Đề Xướng rằng những người Niệm Phật phải tăng cường củng cố liên đới nhằm bảo vệ chánh pháp. Từ việc bảo trì Tín Ngưỡng chánh thống, đối ứng với sự phê phán từ phía các Tông Phái khác, v.v., dần dần thể chế của giáo đoàn được chỉnh bị. Sau khi được ân xá lưu đày ở vùng Việt Hậu (, Echigo), Thân Loan dời đến Quan Đông (, Kantō) và trải qua hơn 20 năm truyền đạo tại trung tâm tiểu quốc Thường Lục (). Chính vì vậy, số lượng người Niệm Phật thọ nhận giáo nghĩa của Thân Loan ở địa phương Đông Quốc (, Tōgoku) rất đông. Trong Thân Loan Thánh Nhân Môn Lữ Giao Danh Điệp () có ghi 48 người gồm: Thường Lục () 20, Hạ Tổng (, Shimōsa) 4, Hạ Dã (, Shimotsuke) 6, Võ Tàng (, Musashi) 1, Lục Áo (, Mutsu) 7, Việt Hậu (, Echigo) 1, Viễn Giang () 1, Kinh Đô (, Kyōto)
8. Tuy nhiên, ngoài Giao Danh Điệp ra, trong các thư trạng của Thân Loan có ghi thêm 30 người nữa, như vậy tổng cọng gần trăm người. Hơn nữa, các môn đệ này là những người trực tiếp thọ nhận sự chỉ dạy của Thân Loan; mỗi người còn có vài mươi Môn Đồ, nếu tính vào thì số lượng sẽ đông hơn nhiều. Sau khi Thân Loan kết thúc truyền đạo vùng Đông Quốc và quay trở về Kinh Đô, giáo đoàn Niệm PhậtĐông Quốc đã Kết Tập những môn đệ có thế lực làm trung tâm, và lấy tên địa danh của họ để gọi tên Môn Đồ. Tỷ dụ như tập đoàn lấy Chơn Phật (, Shinbutsu), Hiển Trí (, Kenchi) ở Cao Điền (, Takada) thuộc tiểu quốc Hạ Tổng làm trung tâm được gọi là Môn Đồ Cao Điền (). Sau khi Thân Loan qua đời, môn đệ Đông Quốc cùng với người con gái út của ông là Ni Giác Tín (, Kakushin) tiến hành xây dựng ngôi Đại Cốc Miếu Đường ()Đông Sơn (, Higashiyama), Kyōto. Giác Như (, Kakunyo), người canh giữ miếu đường đời thứ 3, gọi nó là Bổn Nguyện Tự (, Hongan-ji), biến nơi đây thành chùa làm trung tâm với mưu đồ thống lãnh toàn bộ giáo đoàn. Thế nhưng, Môn Đồ ở các nơi phản đối ý đồ của Giác Như; mỗi người tự lâp ra pháp phái hệ phổ riêng mang đậm sắc thái của giáo đoàn tự lập. Trong số các giáo đoàn địa phương, Môn Đồ Cao Điền (Chuyên Tu Tự Phái []) là giáo đoàn có thế lực nhất, sau này phân chia thành Võ Tàng Quốc Hoang Mộc Môn Đồ ()Tam Hà Quốc Hòa Điền Môn Đồ (). Môn Đồ Hòa Điền đã kết hợp được Tín Tịch (), Tịch Tĩnh () làm trung tâm, từ đó xuất hiện Như Đạo (, Nyodō) để truyền bá Pháp Môn Niệm Phật đến tiểu quốc Việt Hậu (, Echigo) như Sơn Nguyên Phái (, Yamamoto-ha), Tam Môn Đồ Phái (, Sanmonto-ha), Thành Chiếu Tự Phái (, Jōshōji-ha). Liễu Nguyên (, Ryōgen), người lôi kéo Môn Đồ Hoang Mộc, sáng lập một ngôi chùa ở vùng Sơn Khoa (, Yamashina), Kyōto, mở ra cơ đồ cho Phật Quang Tự Phái (, Bukkōji-ha). Giáo đoàn này phát triển từ vùng Cận Kì (, Kinki) đến Trung Quốc (, Chūgoku), Tứ Quốc (, Shikoku). Cùng thời điểm đó, Cẩm Chức Tự (, Kinshoku-ji, Mộc Biên Phái [, Kibe-ha]) của Từ Không (, Jikū) ở vùng Mộc Biên (, Kibe) thuộc tiểu quốc Cận Giang (, Ōmi) cũng từ vùng Cận Giang triển khai đến tiểu quốc Đại Hòa (, Yamato). Đến thời Liên Như (, Rennyo), vị tổ đời thứ 8 của Bổn Nguyện Tự, giáo tuyến của ông đã trải rộng khắp toàn quốc và hấp thu Môn Đồ ở các nơi. Trong đó, từ Phật Quang Tự (, Bukkō-ji) phân phái thành Hưng Chánh Tự (, Kōshō-ji), lôi kéo hơn nữa chùa con về phía Bổn Nguyện Tự (vào năm thứ 9 [1876] đời vua Minh Trị [, Meiji], Hưng Chánh Phái [, Kōshō-ha] độc lập). Đến đầu thời Giang Hộ (, Edo), Bổn Nguyện Tự lại phân liệt thành đông và tây. Tại đó, cơ sở của 10 phái Chơn Tông được hình thành. Trước kia, không có cách xưng hô của giáo đoàn như Nhất Hướng Tông (), Môn Đồ Tông (), v.v.; nhưng vào năm thứ 3 (1774) niên hiệu An Vĩnh (), giáo đoàn đã thỉnh nguyện lên chính quyền Mạc Phủ các xưng hô công khai của Tông PháiTịnh Độ Chơn Tông. Tuy nhiên, họ đã gặp phải sự phản đối của Tịnh Độ Tông, cuối cùng sự thỉnh nguyện đó không được thực hiện. Đến năm thứ 5 niên hiệu Minh Trị, tên gọi Chơn Tông đã được chấp thuận và vào năm thứ 21 (1946) niên hiệu Chiêu Hòa (), Bổn Nguyện Tự Phái (, Honganji-ha) được gọi là Tịnh Độ Chơn Tông. Hiện tại theo bản Tôn Giáo Niên Giám (, năm 1997) của Bộ Văn Hóa Nhật Bản cho biết rằng sau 700 năm từ khi Lập Giáo khai tông, vào năm 1923 (Đại Chánh [] 12), các phái của Tịnh Độ Chơn Tông đã liên hợp thành một đoàn thể thống nhất và có 10 phái chính (liệt kê theo thứ tự tên phái, chùa Bản Sơn trung tâm, số lượng chùa tùng thuộc), gồm: (1) Tịnh Độ Chơn Tông Bổn Nguyện Tự Phái (, Jōdoshinshūhonganji-ha), Tây Bổn Nguyện Tự (西, Nishihongan-ji), khoảng 10.500; (2) Chơn Tông Đại Cốc Phái (, Shinshūōtani-ha), Đông Bổn Nguyện Tự (, Higashihongan-ji), khoảng 8.900; (3) Chơn Tông Cao Điền Phái (, Shinshūtakada-ha), Chuyên Tu Tự (, Senjū-ji), khoảng 640; (4) Chơn Tông Phật Quang Tự Phái (, Shinshūbukkōji-ha), Phật Quang Tự (, Bukkō-ji), khoảng 390; (5) Chơn Tông Hưng Chánh Phái (, Shinshūkōshō-ha), Hưng Chánh Tự (, Kōshō-ji), 500; (6) Chơn Tông Mộc Biên Phái (, Shinshūkibe-ha), Cẩm Chức Tự (, Kinshoku-ji), khoảng 200; (7) Chơn Tông Xuất Vân Lộ Phái (, Shinshūizumoji-ha), Hào Nhiếp Tự (, Gōshō-ji), 60; (8) Chơn Tông Thành Chiếu Tự Phái (, Shinshūjōshōji-ha), Thành Chiếu Tự (, Jōshō-ji), 70; (9) Chơn Tông Tam Môn Đồ Phái (, Shinshūsanmonto-ha), Chuyên Chiếu Tự (, Senshō-ji), 36; và (10) Chơn Tông Tam Nguyên Phái (, Shinshūsangen-ha), Chứng Thành Tự (, Shōjō-ji),
21. Hơn nữa, từ cuối thời Minh Trị (, Meiji, 1868-1911) trở đi, trong Tịnh Độ Chơn Tông có một số phân phái khác như Chơn Tông Tịnh Hưng Tự Phái (, Shinshūjōkō-ha), Chơn Tông Trường Sanh Phái (, Shinshūchōsei-ha), Chơn Tông Bắc Bổn Nguyện Tự Phái (, Shinshūkitahonganji-ha), Tịnh Độ Chơn Tông Tịnh Quang Tự Phái (, Jōdoshinshūjōkōji-ha), Môn Đồ Tông Nhất Vị Phái (, Montoshūichimi-ha), (, Jōdoshinshūkengōin-ha), v.v.