Tích Trượng

《錫杖》 xī zhàng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: khakkhara, khakharaka: âm dịch là Khích Khí La (), Khế Khí La (), Ngật Cát La (), Ngật Khí La (); còn gọi là Thanh Trượng (), Thiền Trượng (), Minh Trượng (), Trí Trượng (), Đức Trượng (), Kim Tích (); gọi tắt là Trượng (); là một trong 18 vật thường dùng của vị Tỳ Kheo, là vật dụng thường mang đi trên đường. Nguyên Lai, Tích Trượng được dùng để xua đuổi rắn độc, côn trùng, v.v. Hoặc khi đi Khất Thực, vị Tỳ Kheo chấn rung cây Tích Trượng, làm cho ở xa cũng nghe biết; và đời sau nó trở thành một trong những Pháp Khí. Trong quyển Hạ của Đại Tỳ Kheo Tam Thiên Uy Nghi (, Taishō Vol. 24, No. 1470), có giải thích rõ nguyên do cầm Tích Trượng như thế nào: “Nhất giả vi địa trùng cố, Nhị Giả vi niên lão cố, tam giả vi phần vệ cố (, thứ nhất vì côn trùng dưới đất, thứ hai vì tuổi già, thứ ba vì để bảo vệ).” Tích Trượng được sử dụng không những chỉ để xua đuổi côn trùng độc hại, mà còn để báo cho biết khi đi Khất Thực, hay làm vật chống đỡ cho người lớn tuổi, già yếu. Trong quyển Hạ của Đại Tỳ Kheo Tam Thiên Uy Nghi còn nêu rất rõ 25 điều cần phải biết đối vị Tỳ Kheo cầm Tích Trượng như “xuất nhập kiến Phật Tượng, bất đắc sử đầu hữu thanh (使, khi ra vào thấy tượng Phật thì không được làm cho đầu trượng phát ra tiếng vang)”, “bất đắc trì trượng Nhập Chúng (, không được mang trượng vào trong chúng)”, “tam sư dĩ trì trượng xuất, bất đắc phục trì trượng tùy xuất (, khi ba thầy đã mang trượng đi ra rồi, không được lại cầm trượng đi theo ra)”, v.v. Cho nên, việc sử dụng Tích Trượng được chế định rất nghiêm cẩn, chứ không được lạm dụng. Trên đầu Tích Trượng có những vòng tròn lớn nhỏ bằng thiếc, khi lắc phát ra tiếng kêu leng keng, nên có tên gọi là Thanh Trượng (, gậy phát ra âm thanh). Nó được dùng đi khắp các nơi, nên được gọi là Phi Tích (), Tuần Tích (); nếu dừng một nơi mà trụ thì gọi là Lưu Tích (). Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (, Taishō Vol. 51, No. 2076) quyển 8, có ghi lại câu chuyện của Thiền Sư Ẩn Phong ()Ngũ Đài Sơn (). Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (, 806-820) nhà Đường, trên đường lên Ngũ Đài Sơn, lúc đi ngang qua Hoài Tây (西), Thiền Sư gặp quan quân triều đình và giặc cướp đang giao tranh lẫn nhau, bất phân thắng bại; để hóa giải họa hoạn này, Thiền Sư bèn ném cây trượng lên không trung, phi thân bay qua. Khi ấy tướng sĩ của hai bên ngước lên nhìn mà khiếp hãi tưởng như trong giấc mơ, không còn Tâm Trí đánh nhau nữa. Câu chuyện này trở thành nổi tiếng trong Thiền Lâm với thuật ngữ Phi Tích Cao Tăng (, vị tăng đức độ cỡi trên Tích Trượng mà bay đi, hay vị tăng đi Du Hành đó đây). Trong Thiên Thai TôngChơn Ngôn Tông Nhật Bản, khi có Pháp Hội, người ta thường dùng loại Tích Trượng ngắn, vừa chấn rung vừa tụng thần chú. Về nguồn gốc của Tích Trượng, Căn Bổn Nhất Thuyết Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự (, Taishō Vol. 24, No. 1451) quyển 34 có giải thích rằng nhân sự việc vị Tỳ Kheo đến nhà người Khất Thực, gặp vài trở ngại như lên tiếng báo cho biết, hay gõ cửa, v.v., đều bị quở trách; nên Phật chế dùng Tích Trượng như “trượng đầu an hoàn, viên như trản khẩu, an tiểu hoàn tử, dao động tác thanh nhi vi cảnh giác (, gắn vòng tròn trên đầu trượng, tròn như miệng chén, gắn vòng nhỏ, rung động tạo thành tiếng để báo cho biết).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 5, phần Tích Trượng cho biết rằng: “Phật cáo Tỳ Kheo, ưng thọ trì Tích Trượng, Quá Khứ vị lai hiện tại chư Phật giai chấp cố; hựu danh Trí Trượng, hựu Danh Đức Trượng; chương Hiển Trí hành Công Đức bổn cố. Tích giả, khinh dã; y ỷ thị trượng trừ Phiền Não xuất Tam Giới cố. Tích minh dã, đắc trí minh cố. Tích tỉnh dã, tỉnh ngộ Khổ Không Tam Giới kết cứu cố. Nhị dịch lục hoàn thị Ca Diếp Phật chế, tứ dịch thập nhị hoàn thị Thích Ca Phật chế (, Phật dạy Tỳ Kheo nên thọ trì Tích Trượng, vì chư Phật trong Quá Khứ vị lai và hiện tại đều dùng đến; lại có tên là Trí Trượng, lại có tên là Đức Trượng; làm sáng tỏ gốc Công Đức của Trí và Hành. Tích nghĩa là nhẹ, vì nương tựa vào cây trượng này mà đoạn trừ Phiền Não, ra khỏi Ba Cõi. Tích nghĩa là sáng, vì đạt được trí tuệ sáng suốt. Tích nghĩa là tỉnh, vì tỉnh ngộ Khổ Không của Ba Cõi Cứu Cánh. Trượng có hai đầu sáu vòng là do Phật Ca Diếp chế ra; có bốn đầu 12 vòng là do Phật Thích Ca chế ra).” Trong Phật Thuyết Mục Liên Ngũ Bách Vấn Kinh Lược Giải (, Tục Tạng Kinh Vol. 44, No. 750) quyển Hạ giải thích rằng: “Y bát nãi Nhẫn Nhục chi Pháp Khí, Tích Trượng biểu Như Lai chi Pháp Thân (, y bát là Pháp Khí của Nhẫn Nhục, Tích TrượngPháp Thân của Như Lai).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1277) cho biết rằng: “Quải tam sự Như Lai y, hướng Nhân Gian Ứng Cúng Phước Điền, thủ trì Tích Trượng hàng long hổ (, mang áo Như Lai ba việc, hướng cuộc đời ruộng phước cúng dường, tay cầm Tích Trượng hàng rồng hổ).” Trong Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (, Tục Tạng Kinh Vol. 60, No. 1115) do Luật Sư Độc Thể (, 1601-1679), vị Cao Tăng của Phái Thiên Hoa () thuộc Luật Tông Trung Quốc soạn, có bài kệ Xuất Tích Trượng (, Lấy Tích Trượng) như sau: “Chấp trì Tích Trượng, đương nguyện Chúng Sanh, thiết đại thí hội, thị Như Thật đạo. Án na lật thế, na lật thế, na lật tra bát để, na lật đế, na dạ bát nanh, hồng phấn tra (, cầm giữ Tích Trượng, nguyện cho Chúng Sanh, thiết hội đại thí, chỉ đường Như Thật. Án na lật thế, na lật thế, na lật tra bát để, na lật đế, na dạ bát nanh, hồng phấn tra).”