Thượng Toà

《上座》 shàng zuò

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Sthavira. Pàli:Thera. Hán âm: Tất tha bệ la, Tát đề na. Cũng gọi: Trưởng lão, Thượng lạp, Thủ tọa, Thượng tọa, Trụ vị. Một trong Tam Cương. Chỉ cho vị tăng hay vị ni có tuổi hạ cao, ở địa vị trên. Kinh Tì ni mẫu quyển 6 y cứ vào tuổi hạ cao hay thấp mà lập ra 4 bậc: Hạ tọa, Trung tọa, Thượng tọa và Kì cựu trưởng túc. Rồi qui định từ chưa có Hạ Lạp nào 19 hạ, gọi là Trung tọa; từ 20 hạ đến 49 hạ, gọi là Thượng tọa. Từ 50 hạ trở lên, được Quốc Vương, trưởng giả, người Xuất Gia kính trọng thì gọi là Kì cựu. Nhưng Nam hải kí qui Nội Pháp truyện quyển 3 thì cho rằng đủ 10 hạ là Tất tha bệ la, đó là vì từ bậc Trung tọa trở lên gọi chung là Thượng tọa.Theo Tập dị môn túc luận quyển 4 thì Thượng tọa có 3 loại như sau:
1. Sinh niên thượng tọa (Phạm:Jatisthavina): Chỉ cho Tôn trưởng, Kì cựu.
2. Thế Tục thượng tọa (Phạm:Saôvftisthavira): Người có tài sản, địa vị, quyền hành Thế Tục.
3. Pháp Tính thượng tọa (Phạm: Dharma-sthavira): Người có tuổi hạ khá cao, trí tuệ giải thoát, đã Chứng Quả A La Hán.Còn Thích Thị Yếu Lãm quyển thượng thì nêu thuyết Tứ chủng thượng tọa, đó là:
1. Tăng Phòng thượng tọa: Tức chỉ cho Tam Cương thượng tọa nói trong các luật.2. Tăng Thượng tọa:Tức Thượng tọa ở trên đàn, hoặc chỉ cho vị Thủ tọa trong Giới Đàn khi truyền giới.
3. Biệt phòng thượng tọa: Tức chỉ cho vị Thủ tọa của các liêu trong Thiền Lâm.
4. Trụ gia thượng tọa: Chỉ cho vị Thượng tọa coi về trai tịch. Ngoài ra, Thượng tọa cũng là từ gọi chung các tỉ khưu. [X. luật Tứ phần Q. 54.; luật Thập tụng Q. 39.; Thiền uyển thanh qui Q. 1.; môn Xưng hô trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên].