Thức Uẩn

《識蘊》 shí yùn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Vijĩàna-skandha. Pàli: Viĩĩaịa-khandha. Cũng gọi Thức ấm, Thức thụ ấm. Chỉ cho sự tụ tậpcủacác thức như thức mắt, thức tai..., 1 trong 5 uẩn. Luận Câu xá quyển 1 (Đại 29, 4 thượng) nói: Mỗi thức đều Phân Biệt rõ ràng từng cảnh giới trong các giới, rồi thu lấy toàn bộ cảnh giới, cho nên gọi là Thức Uẩn. Đây lại có 6 thức thân khác nhau, tức từ Nhãn thức thân đến Ý thức thân. Bởi vì 6 thức như thức mắt..., khi đối trước cảnh, chỉ thu lấy tướng chung để Phân Biệt, cho nên gom 6 thức này vào nhóm loại mà đặt tên là Thức Uẩn. Trong 12 xứ, 6 thức này hợp chung làm 1 Ý xứ, trong 18 giới thì chia 6 thức thành Nhãn Thức Giới cho đến Ý Thức Giới và lại lập riêng Ý căn không gián đoạn mà thành 7 tâm giới. Luận Đại thừaa tì Đạt Ma tạp tập quyển 2 (Đại 31, 701 thượng) nói: Thế nào là kiến lập Thức Uẩn? Nghĩa là Tâm, Ý, Thức khác nhau. Trong đó, thức A lại da thứ 8 là Tâm, thức Mạt na thứ 7 là Ý và 6 thức trước là Thức, tức gọi chung 8 thức này là Thức Uẩn. Còn luận Du Già sư địa quyển 54 thì nêu 5 loại Thức Uẩn khác nhau, đó là:
1. An trụ: Đối với 3 cõi, các thức chấp trước trong, ngoài mà an trụ.
2. Tạp Nhiễm:Các Phàm Phu, trong pháp hiện tại do cảnh giới Thụ Dụng, trong Pháp Vị lai do môn Sinh Tử mà bị ô nhiễm.
3. Sở y: Thức nương theo 6 chỗ như mắt... và 6 thân thức mà chuyển.
4. Trụ: Thức nương vào 4 thức trụ mà an trụ.
5. Dị Tướng:Thức có các tướng khác nhau như tâm tham, hoặc lìa tâm tham, thiện hoặc Bất Thiện hoặc vô kí... [X. kinh Tạp a hàm Q. 3.; kinh Tăng nhất a hàm Q. 28.; Tập dị môn túc luận Q. 1.; luận Đại tì Bà Sa Q. 74.].