Thông Lí

《通理》 tōng lǐ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cao Tăng Trung Quốc sống vào đời Thanh, người ở Tân hà, Tỉnh Hà bắc, họ Triệu, tự Đạt nhiên. Sư Xuất Gia từ thủa nhỏ, theo ngài Tòng hiển Như trân học tập kinh luận. Năm 20 tuổi, sư y vào ngài Đức chương ở chùa Tụ vân tại núi Đàm chá Thụ Giới Cụ Túc, chuyên học Luật bộ. Sau, sư ẩn cư tại núi Diệu Phong thuộc tỉnh Hồ bắc, chú thích các kinh như kinh Pháp hoa... khi đọc đoạn văn Thập Như Thị trong phẩm Phương Tiện, sư hiểu rõ được ý nghĩa của 2 thứ trí Quyền và Thực, nhờ đó mà thông suốt các kinh. Sư lại theo Luật chủ Động ông chùa Tụ vân học luật Tứ phần, được chính truyền của Luật Tông Nam Sơn. Rồi sư vào kinh Đô Giảng rõ ý chỉ Ngũ Giáo Thập Tông của Hoa nghiêm, nên sư được tôn làm Tổ Trung hưng Hoa nghiêm ở đời Thanh. Sư từng xem Hoa nghiêm đại sớ của ngài Trừng quán, giảng kinh Báo ân ở am Vạn duyên trên núi Ngũ đài, cảm được Bồ Tát Văn thù hiện đến. Năm Càn Long 18 (1753), sư vâng mệnh vua trông coi việc ấn loát của Ti Tăng lục ở Phật lâu trong vườn Viên minh, được vua ban cho áo đỏ. Năm Càn long 44 (1779), lúc vua Cao tông được 70 tuổi, sư cùng Ban Thiền Lạt Ma đời thứ 6 vào kinh để luận về Đại Nghĩa Phật Pháp, Lạt Ma tặng sư lụa thơm, mạn đáp... Sau, sư được sắc phong Danh Hiệu Xiển Giáo Thiền Sư. Năm Càn long 47 (1782), sư Thị Tịch, thọ 82 tuổi. Sư có các tác phẩm: Lăng Nghiêm Kinh chỉ chưởng sớ 10 quyển, Lăng Nghiêm Kinh huyền thị 1 quyển, Pháp hoa kinh chỉ chưởng sớ 7 quyển, Pháp hoa kinh Khoa Văn 1 quyển, Pháp hoa kinh huyền thị 1 quyển, Pháp hoa kinh sự nghĩa 1 quyển và Phổ Môn phẩm Biệt Hành sớ 1 quyển.