Thiên Sam
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Biên sam, Biến sam, Thiên tụ. Pháp y của tăng ni, giống như áo tràng. Nghĩa là Tăng Kì chi và Phú kiên y may chung lại với nhau, rồi thêm vạt nữa mà trở thành 1 loại áo có 2 tay, vạt trước vạt sau và phần trên thì giao nhau với mặt sau lưng, ở chỗ giao nhau cột lại bằng những cái nút. Cứ theo Phật chế tỉ khưu Lục Vật đồ thì chư tăng đời xưa ở Trung Quốc đã có tập quán mặc Tăng Kì chi, đến đời Hậu Ngụy mới có thêm tay áo bên phải, khâu dính 2 mép lại gọi là Thiên Sam. Về cách may thì cổ áo mở theo hình tướng xưa, cho nên biết vai trái của Thiên Sam chính là Tăng Kì chi cũ, còn vai phải chính là Phú kiên y. Lại cứ theo Điều Phục chương pháp thức trong Đại Tống Tăng Sử Lược quyển thượng và điều Biện Đạo cụ trong Sắc tu Bách trượng thanh qui quyển 5, vào thời Hậu Ngụy, chư tăng được thỉnh vào cung vua làm lễ tự tứ, những người trong cung thấy chư tăng mặc áo để lộ vai bên phải cho là không tốt, vì thế mới may Thiên đản kiên y chồng lên Tăng Kì chi, gọi là Thiên Sam. Theo phong tục người Ấn Độ, khi lễ Phật, Sư Tăng, hoặc làm các việc thì tỉ khưu đều được mặc áo để lộ vai bên phải. Trung Quốc do khí hậu tương đối lạnh, vả lại, mặc áo để lộ vai và cánh tay thì không hợp lễ tục, cho nên phỏng theo hình thức trùm kín vai mà chế ra 1 loại tiểu sam đặc biệt là trên hẹp dưới rộng để vắt lên vai bên phải, đây chính là nguồn gốc của Thiên Sam, được bắt đầu vào khoảng đời Hậu Ngụy, rồi thịnh hành vào đời Tùy, Đường. Tứ phần luật sưu huyền lục ghi: Thiên Sam che vai bên phải là do Luật Sư Tuệ quang đời Hậu Ngụy sáng chế. Nhưng 2 tay áo đều là Thiên Sam thì không rõ ai chế ra.