Thành Thật Tông

《成實宗》 chéng shí zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Jōjitsu-shū: tên gọi của học phái nghiên cứu dựa trên bộ Thành Thật Luận (Sanskrit: Satyasiddhi-śāstra, ) của Ha Lợi Bạt Ma (Sanskrit: Harivarman, , khoảng thế kỷ thứ 3-4), do Cưu Ma La Thập (Sanskrit: Kumārajīva, , 344-413) dịch vào khoảng năm 411-412. Ở Trung Hoa thì nó thuộc một chi nhánh của Tam Luận Tông. Trước tiên tông này được môn hạ của La Thập nghiên cứu, rồi Tăng Đạo () và Tăng Tung () đã thành lập nên 2 hệ thống tư tưởng lớn. Tăng Đạo thì trước tác bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ (), đóng vai trò chỉ đạo trong việc nghiên cứu về Thành Thật Tông ở vùng phía Nam. Ông có một số Đệ Tử như Đàm Tế (), Đạo Lượng (), Đạo Mãnh (), v.v. Đệ Tử của Đàm Tế và Đạo Mãnh thì có Pháp Sủng (). Còn đối với Đạo Lượng, người soạn ra bộ Thành Thật Luận Nghĩa Sớ thì có Trí Lâm (). Tăng Tung thì quảng bố Thành Thật Luận ở Từ Châu; còn các môn hạ của Đệ Tử ông là Tăng Uyên () như Đàm Độ (), Đạo Đăng (), Huệ Cầu (), v.v., thì được tín nhiệm thời Bắc Ngụy. Vào thời Nam Tề thì Tăng Nhu (), Huệ Thứ () vâng theo mệnh lệnh của vua Tuyên Văn Vương () trước tác bộ Lược Thành Thật Luận (); sau này môn hạ của họ cũng xuất hiện ra 3 vị đại pháp sư của nhà Lương là Trí Tạng (), Tăng Mân ()Pháp Vân (). Trong số 3 người này thì Trí Tạng là người đã đem hết sức mình xiển dương Thành Thật Luận. Vào đời nhà Tùy thì có Trí Thoát () rất nổi tiếng. Đối với Nhật Bản thì tông này cũng được vương triều Bách Tế () của Triều Tiên truyền vào, nhưng chỉ phụ thuộc vào Tam Luận Tông, chứ không tồn tại như một Tông Phái lớn như ở Trung Quốc.