Thanh Chuyết Chánh Trừng
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Seisetsu Shōchō, 1274-1339: vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Phá Am (破庵), thuộc Lâm Tế Tông, vị Tổ khai sáng Phái Đại Giám (大鑑派), hiệu là Thanh Chuyết (清拙), ngoài ra còn có hiệu khác là Tất Cánh Diệt (畢竟滅), Thụy Hiệu là Đại Giám Thiền Sư (大鑑禪師); người vùng Phúc Châu (福州, thuộc Tỉnh Phúc Kiến), họ là Lưu (劉). Năm 15 tuổi, ông theo Xuất Gia với người bác mình là Nguyệt Khê Viên (月溪圓) ở Báo Ân Tự (報恩寺), năm sau thì thọ Cụ Túc Giới ở Khai Nguyên Tự (開元寺). Ông đến tham vấn ở Pháp Tịch của Cổ Sơn Bình Sở Tủng (鼓山平楚聳), rồi đến Tịnh Từ Tự (淨慈寺) ở vùng Triết Giang bái yết Ngu Cực Trí Tuệ (愚極智慧), và sau khi Ngu Cực qua đời thì ông kế thừa dòng pháp của Phương Sơn Văn Bảo (方山文寶). Về sau, ông cũng đã từng đến Tham Học ở các nơi như Hổ Nham (虎巖) tại Linh Ấn Tự (靈隱寺), Đông Nham (東巖) tại Dục Vương Sơn (育王山), Nguyệt Đình (月庭) ở Tương Sơn (蔣山), cũng như Hư Cốc Hy Lăng (虛谷希陵) ở Ngưỡng Sơn (仰山). Sau đó, ông bắt đầu Hóa Đạo ở Kê Túc Sơn (雞足山), chuyên tâm báo đáp ơn Pháp Nhũ của Ngu Cực Trí Tuệ. Đến năm thứ 3 (1326) niên hiệu Thái Định (泰定), nhận lời mời của dòng họ Bắc Điều (北條, Hōjō), ông cùng với người Đệ Tử Vĩnh Kỳ (永錤) sang Nhật Bản. Thể theo lời thỉnh cầu của Tướng Quân Bắc Điều Cao Thời (北條高時, Hōjō Takatoki), ông đến sống tại Kiến Trường Tự (建長寺, Kenchō-ji). Sau đó, ông đã từng sống qua ở hai chùa Tịnh Trí (淨智) và Viên Giác (圓覺), nhưng sau ông lại trở về dựng ngôi thảo am lấy tên Thiền Cư Am (禪居庵) ở trong khuôn viên Kiến Trường Tự mà sống. Vào năm thứ 3 (1333) niên hiệu Nguyên Hoằng (元弘), ông chuyển đến Kiến Nhân Tự (建仁寺, Kennin-ji) ở vùng Kinh Đô Kyoto, rồi Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji). Sau đó, nhận lời thỉnh cầu của vị Thí Chủ Tiểu Lạp Nguyên Trinh Tông (小笠原貞宗), ông đến làm Tổ Khai Sơn Khai Thiện Tự (開善寺, Kaizen-ji) ở vùng Y Hạ Lương (伊賀良) thuộc Tín Nùng (信濃, Shinano, thuộc Nagano-ken [長野縣]). Nhưng sau ông lại rút lui khỏi đây mà trở về Thiền Am Cư. Tiếp theo sau đó, nhận sắc chỉ của triều đình, lần thứ hai ông trở về sống ở Kiến Nhân Tự, và đến ngày 17 tháng giêng năm thứ 2 niên hiệu Ứng Lịch (應曆), ông Thị Tịch, hưởng thọ 66 tuổi đời và 53 Hạ Lạp. Ông được ban cho Thụy Hiệu là Đại Giám Thiền Sư. Trước tác của ông để lại có Thanh Chuyết Hòa Thượng Ngữ Lục (清拙和尚語錄), Đại Giám Thanh Quy (大鑑清規), Đại Giám Tiểu Thanh Quy (大鑑小清規), Thanh Chuyết Hòa Thượng Thiền Cư Tập (清拙和尚前居集), Vô Môn Quan Chú (無門關註). Đông Lăng Vĩnh Dư (東陵永璵) soạn bài Thanh Chuyết Đại Giám Thiền Sư Tháp Minh (清拙大鑑禪師塔銘).