Tha Duyên Đại Thừa Tâm
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Tha Duyên Đại Thừa trụ tâm, Vô duyên thừa tâm. Chỉ cho tâm Bồ Tát đem lòng từ bi vô duyên (vô điều kiện) gia bị tất cả Chúng Sinh, là Trụ tâm thứ 6 trong 10 Trụ tâm do tông Chân Ngôn Nhật Bản Thành lập. Luận Thập Trụ Tâm quyển 6 (Đại 77, 337 thượng) nói: Duyên các hữu tình trong Pháp Giới nên gọi là Tha Duyên; Phân Biệt với xe dê, xe nai của Thanh Văn, Độc giác nên gọi là Đại; vận chuyển mình và người về tính Viên Giác nên gọi là Thừa. Đó là Hành Nghiệp của người quân tử, là dụng tâm của hàng Bồ Tát. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 1 (Đại 18, 3 trung) nói: Hạnh Đại Thừa phát tâm vô duyên thừa, pháp vô tự tính. Tiếng Phạm của chữ Vô này là màpara (Hán âm: Mãng bát la) bao hàm 2 nghĩa vô và tha, cho nên có 2 cách giải thích là Tha Duyên thừa và Vô duyên thừa. Ngài Không Hải dựa theo Sở kí tề đem tâm Vô duyên thừa phối hợp với giáo ý của Pháp tướng Đại Thừa. Nếu nói theo Năng kí tề của Hành Giả Chân Ngôn thì tâm Vô duyên thừa tương đương với giai vị Pháp Vô Ngã vô úy, thứ 5 trong 6 Vô úy, tức dùng các pháp tu hành Như Huyễn mà đi sâu vào Pháp Không, trụ nơi tâm vô duyên để xa lìa sự trói buộc của các pháp. Nói theo 10 Trụ tâm thì trong Trụ tâm thứ 5 vừa nói trên đã xa lìa sự trói buộc của 5 uẩn, nhưng vẫn chưa Phát Khởi Bi Nguyện, đến Trụ tâm này mới vào Bồ Tát phần, theo thứ tự biết rõ lí Tâm vốn Không Sinh mà dần dần tiến lên Trụ tâm thứ
7. Ở giai vị trung gian chính là Tha Duyên Đại Thừa Tâm của Trụ tâm thứ
6. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q. 2., 3; Bí Tạng Bảo Thược Q.hạ]. (xt. Thập Trụ Tâm).
7. Ở giai vị trung gian chính là Tha Duyên Đại Thừa Tâm của Trụ tâm thứ
6. [X. Đại Nhật Kinh Sớ Q. 2., 3; Bí Tạng Bảo Thược Q.hạ]. (xt. Thập Trụ Tâm).