Tạp Tu Tĩnh Lự

《雜修靜慮》 zá xiū jìng lǜ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Tạp Tu định. Chỉ cho sự tu tập cả tĩnh lự(thiền định) Hữu Lậu lẫn tĩnh lự vô lậu. Cứ theo luận Câu xá quyển 24, các bậc A La HánA Na Hàm tập luyện Tạp Tu Tĩnh Lự để cầu hiện Pháp Lạc, hoặc để đề phòng Phiền Não Sinh Khởi đưa đến thoái đọa; vì Tĩnh lự là Định Căn bản của cõi Sắc, nên người vẫn chưa dứt hết Phiền Não của cõi Dục(tức chưa lìadục)thì không tu được. Vì thế, các vị từ Bất Hoàn Hướng trở xuống không có khả năng tu Tạp Tu Tĩnh Lự này. Cũng luận Câu xá còn nói rõ về tướng tu của Tạp Tu Tĩnh Lự, nghĩa là trước hết phải vào tĩnh lự thứ 4, khiến cho nhiều niệm vô lậu tiếp tục Hiện Tiền, kế đó dẫn sinh nhiều niệm Hữu Lậu, rồi lại hiện khởi nhiều niệm vô lậu, cứ như thế xoay vần tu cả vô lậu, Hữu Lậu, vô lậu đắp đổi lẫn nhau, lại dần dần giảm thiểu những niệm ấy, gọi là Viễn gia hạnh; nếu dần dần giảm đến còn 2 niệm vô lậu thì dẫn sinh 2 niệm Hữu Lậu Hiện Tiền, lại hiện khởi 2 niệm vô lậu, gọi là Cận gia hạnh, hoặc Gia hạnh thành mãn; sau đó lại giảm xuống còn một niệm vô lậu, một niệm Hữu Lậu, một niệm vô lậu thì lúc đó căn bản của việc Tạp Tu Tĩnh Lự đã viên thành. Trong quá trình tu chứng, trong một niệm vô lậu đầu tiên, đoạn trừ được Bất Nhiễm Ô Vô Tri, từ vô lậu tiến vào Hữu Lậu; rồi trong một niệm Hữu Lậu kế đó, đoạn trừ được Bất Nhiễm Ô Vô Tri, từ Hữu Lậu tiến vào vô lậu. Hai Sát Na trước(vô lậu, Hữu Lậu) chứng Vô gián đạo; Sát Na thứ 3(vô lậu), chứng Giải thoát đạo. Tạp Tu Tĩnh Lự thứ 4 đã Thành Tựu thì cũng có thể nhờ thế lực ấy mà Tạp Tu 3 Tĩnh lự còn lại. Mà muốn tu tập những Tĩnh lự này thì trước hết cần phải tu được ở 3 châu(trừ Bắc châu) thuộc cõi người trong Dục Giới; về sau, nếu có thoái thất mà sinh vào cõi trời Phạm chúng của Sắc Giới thì cũng có thể như trước mà Tạp Tu Tĩnh Lự. Tu Tĩnh lự này có 3 nhân:
1. Nhân thụ sinh vào cõi trời Ngũ Tịnh cư: Muốn sinh vào cõi trời Tịnh cư thì phải nương nghiệp Hữu Lậu, vì thế khởi một niệm Hữu Lậu trung gian và dùng niệm vô lậu trước và sau nó để Huân Tu, khiến cảm được cõi trời Tịnh cư, vì thế, một niệm Hữu Lậu trung gian chính là Dẫn Nghiệp của việc thụ sinh ở cõi trời Tịnh cư.
2. Nhân Thụ Dụng pháp vi diệu lạc hiện tại.3. Nhân phòng ngừa tâm xa lìa và thoái thất vị định Tạp Tu. Trong 3 nhân trên, bậc Lợi Căn của quả Bất hoàn, do nơi 2 nhân trước mà Tạp Tu Tĩnh Lự, còn đối với hàng Độn Căn Bất hoàn thì do cả 3 nhân; bậc Lợi Căn A La Hán do nhân thứ 2, còn bậc Độn Căn A La Hán thì do nhân thứ 2 và nhân thứ 3 mà tu. Thứ tự tu tướng của Tĩnh lự thứ 4 do tông Duy Thức chủ trương là Hữu Lậu, vô lậu, Hữu Lậu, tức đặt vô lậu ở giữa; đồng thời cho rằng nhân Thành Tựu Ngũ Tịnh Cư Thiên chẳng phải do bậc Thánh khởi nghiệp lần thứ 2, mà do nghiệp Hữu Lậu lúc còn là Phàm Phu ở 3 tầng trời dưới tạo ra, sau nhờ sức định trợ giúp làm cho phát sinh Tác Dụng. Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng quyển 6, phần cuối (Đại 43, 783) nói: Tạp Tu này, niệm Hữu Lậu ở trước và sau, một Sát Na vô lậu ở giữa, gọi là Tu thành lậu, như nghiệp Ngũ Tịnh cư, nơi thân Phàm Phu tạo ra hạt giống, tự do chứa nhóm trong thân, có năng lực cảm quả sinh vào các tầng trời dưới, nhưng do khởi nguyện hiếm có, Huân Tu thành mãn, sức định vô lậu chuyển đổi, giúp hạt giống Nghiệp Cảm sinh trước kia, khiến cho thế lực Thù Thắng hơn mà sinh lên cõi Ngũ Tịnh cư, cho nên chẳng phải Hữu Lậu ở giữa, vì sức nó yếu kém. [X. luận Đại tì Bà Sa Q. 175.; luận Du Già sư địa Q. 12.; Câu xá luận quang kí Q. 24.; Câu xá luận bảo sớ Q. 24.].

Tạp Tu Tĩnh Lự. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/tap-tu-tinh-lu. Truy cập 07/04/2026.