Táp Mạt Kiến Quốc

《颯秣建國》 sà mò jiàn guó

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi là Tát mạt kiện quốc. Tên một nước thời xưa ở Tây vực, tức là tên cũ của vùng đất phụ cận Đô Thị Samarkand bên bờ chi lưu của sông Oxus, ở phía nam Turkestan và phía bắc Bokhara hiện nay. Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 1 thì nước này chu vi từ 1600 đến 1700 dặm, chiều đông tây rộng, chiều nam bắc hẹp, đô thành chu vi hơn 20 dặm; địa thế hiểm trở, dân cư đông đúc, hàng hóa quí từ các nơi phần nhiều đổ về đây; đất đai mầu mỡ, lúc mạ xanh tốt, cây rừng um tùm, hoa quả sumsuê, sản nhiều ngựa tốt, công nghệ tinh xảo hơn các nước, khí hậu ôn hòa, phong tục cương mạnh. Còn theo Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện quyển 2, từ triều đình đến dân dã đều theo đạo thờ lửa, không tin Phật Pháp, tuy có vài ngôi chùa viện nhưng không có tăng ở, nếu có khách tăng đến nghỉ nhờ thì đốt lửa đuổi đi. Khi ngài Huyền Trang đến đây giảng nói về Nhân Duyên Quả Báo trời, người, Tán Thán Công Đức của Phật thì vua vui mừng kính tin, xin thụ trai giới. Về sau, mở Đại hội Vô Già, độ người ở chùa. Về tên gọi của nước này có nhiều thuyết khác nhau,xưa gọi là Mã lạp kham đạt (Maracanda); vào thời Đông Hán nước này lệ thuộc nước Khang cư (theo Sử kí, Hán thư), Ngụy thư gọi là Tất vạn thăng, Tùy thư và Tân đường thư đều gọi là Khang quốc, đời Đường về sau mới gọi là Tát mạt kiện. Sách sử đời Nguyên thì giải thích tên nước này nghĩa là Phồn hoa và ghi các tên như Tầm tư can, Tiết mê tư can (Semeg-kand), Tán ma nhĩ can... đều thuộc thổ ngữ, tức chỉ cho Khang quốc. Sử nhà Minh thì gọi là Tán mã nhi hãn. [X. Ngụy thư liệt truyện 90; Cưu đường thư liệt truyện 148; Đường thư tây vực liệt truyện 146].