Tào Động Tông

《曹洞宗》 cáo dòng zōng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Sōtō-shū: một trong Ngũ Gia Thất Tông () của Trung Quốc, một trong ba Tông Phái lớn của Thiền Tông Nhật Bản. Về nguồn gốc của tên gọi Tông Phái có hai thuyết. Thuyết thứ nhất là lấy chữ Động () của Động Sơn Lương Giới () và chữ Tào () của Tào Sơn Bổn Tịch (), rồi đảo ngược vị trí để gọi là Tào Động Tông (). Thuyết thứ hai là kết hợp chữ Tào () của Tào Khê Huệ Năng () với chữ Động () của Động Sơn Lương Giới () để hình thành nên tên gọi như vậy. Thuyết đầu phát xuất từ Trung Quốc và thuyết sau được hình thành ở Nhật Bản. Tào Động Tông Trung Quốc kế thừa Nam Tông Thiền của Lục Tổ Huệ Năng (), từ thời vị này trở đi có xuất hiện Thanh Nguyên Hành Tư (), Thạch Đầu Hy Thiên (), Dược Sơn Duy Nghiễm (), Vân Nham Đàm Thịnh (), lấy Động Sơn Lương Giới ()Đệ Tử của Vân Nham—và Tào Sơn Bổn Tịch ()Đệ Tử của Động Sơn—làm vị tổ của Tông Phái. Như được đánh giá là “Tào Động tế mật ()”, Tông Phong của họ có đặc sắc là Tông Phong chặt chẽ, lấy tư tưởng Ngũ Vị () do Động Sơn và Tào Sơn Đề Xướng làm trung tâm để triển khai. Tuy nhiên, pháp hệ của Tào Sơn không được lưu truyền lâu dài; sau đó hệ thống của Vân Cư Đạo Ưng ()—pháp từ của Động Sơn—trở thành đại biểu cho Tào Động Tông. Đến thời nhà Tống, môn hạ thuộc dòng phái của Vân Cư xuất hiện Đơn Hà Tử Thuần (); kế đến pháp từ của ông có Chơn Hiết Thanh Liễu ()Hoằng Trí Chánh Giác (), từ đó Tào Động Tông phân chia thành Phái Chơn Hiết () và Phái Hoằng Trí (). Đối lập với Đại Huệ Tông Cảo () của Lâm Tế Tông () vốn cổ xúy Khán Thoại Thiền (), Chơn Hiết cũng như Hoằng Trí rất nổi tiếng là những người tuyên xướng Thiền Phong của Mặc Chiếu Thiền (). Cả hai Phái Chơn Hiết và Phái Hoằng Trí này đều được truyền vào Nhật Bản. Thiên Đồng Như Tịnh ()Pháp Tôn đời thứ 4 của Chơn Hiết. Chính Đạo Nguyên () là người kế thừa dòng pháp của vị này. Nhờ Đông Minh Huệ Nhật () sang Nhật vào năm thứ 2 (1309) niên hiệu Diên Khánh ()Đông Lăng Vĩnh Dư () đến Nhật vào năm thứ 2 (1351) niên hiệu Quán Ứng (), Tào Động Tông thuộc Phái Hoằng Trí được truyền vào nước này. Sau khi sang Nhật, Đông Minh đến trú tại Viên Giác Tự (, Enkaku-ji) ở Liêm Thương (, Kamakura); Đông Lăng thì trú một số chùa tại Thiên Long Tự (, Tenryū-ji), Nam Thiền Tự (, Nanzen-ji), Kiến Trường Tự (, Kenchō-ji), Viên Giác Tự (, Enkaku-ji), v.v. Cả hai đều nương gá vào các tự viện của Lâm Tế Tông để cử xướng Thiền Phong Phái Hoằng Trí thuộc Tào Động Tông; thế nhưng pháp hệ của họ không được truyền thừa lâu dài. Tuy nhiên, khi thời đại thay đổi, là một dòng phái của Tào Động Tông, Phái Thọ Xương () vốn tôn thờ Minh Huệ Kinh () nhà Minh làm vị khai tổ được Tâm Việt Hưng Trù () đời thứ 5 truyền vào Nhật Bản vào năm thứ 5 (1677) niên hiệu Diên Bảo (); song không bao lâu sau phái này cũng tuyệt dứt. Chính vì lẽ đó, Phái Đạo Nguyên trở thành đại biểu cho Tào Động Tông Nhật Bản. Tại Trung Quốc, pháp hệ của Như Tịnh về sau cũng lụi tàn, đến thời nhà Minh và Nguyên thì Tào Động Tông của phái Phù Dung Đạo Giai () cố gắng phô trương tàn lực cuối cùng, cho đến khi Lâm Tế Tông hưng thịnh thì Tông Phái này không còn nữa. Đạo Nguyên kế thừa dòng pháp của Thiên Đồng Như Tịnh, sau khi trở về nước ông tạm thời lưu trú tại Kiến Nhân Tự (, Kennin-ji), đến năm đầu (1233) niên hiệu Thiên Phước (福) thì khai sáng Hưng Thánh Tự (, Kōshō-ji) ở vùng Thâm Thảo (, Fukakusa), có sự tham gia của một số người xuất thân Đạt Ma Tông như Cô Vân Hoài Trang () và hình thành nên giáo đoàn Hưng Thánh Tự. Tuy nhiên, 10 năm sau, vào tháng 7 năm đầu (1243) niên hiệu Khoan Nguyên (), Đạo Nguyên chuyển lên sống ở địa phương Việt Tiền (, Echizen), sáng lập Đại Phật Tự (, Daibutsu-ji), sau đổi tên thành Vĩnh Bình Tự (, Eihei-ji) và hình thành giáo đoàn Vĩnh Bình Tự. Song vì Đạo Nguyên rất kiêng kỵ trong việc gọi Tông Chỉ của mình là Tào Động Tông hay Thiền Tông; cho nên giáo đoàn này được gọi là Chánh Pháp Tông () hay Đạo Nguyên Tông (). Trải qua vị tổ đời thứ 2 của Vĩnh Bình TựCô Vân Hoài Trang (), thứ 3 Triệt Thông Nghĩa Giới (), cho đến pháp từ của Nghĩa Giới là Oánh Sơn Thiệu Cẩn (), để tiếp nối mạng mạch của Tào Động Tông Trung Quốc, Đạo Nguyên đã được tôn xưng với vị trí là tổ khai sáng Tào Động Tông Nhật Bản. Cùng lúc đó, chủ nghĩa Xuất Gia của Đạo Nguyên được Oánh Sơn đề cao với kỳ vọng đưa vào cuộc đời. Lúc còn trẻ, Oánh Sơn đã theo Xuất Gia với Nghĩa Giới () trên Vĩnh Bình Tự, rồi kế thừa trú trì Đại Thừa Tự (, Daijō-ji) vùng Gia Hạ (, Kaga), tiếp theo ông khai sáng Vĩnh Quang Tự (, Eikō-ji), Tổng Trì Tự (, Sōji-ji), v.v., ở Năng Đăng (, Noto)Nỗ Lực cử xướng Tông Phong của mình. Dưới trướng của Oánh Sơn xuất hiện hai nhân vật xuất chúng là Minh Phong Tố Triết () và Nga Sơn Thiều Thạc (). Minh Phong thì kế thừa Vĩnh Quang Tự, còn Nga Sơn thì kế thế Tổng Trì Tự. Bên cạnh đó, môn hạ của Nga Sơn còn có 25 nhân vật tuấn tú, làm cho uy thế của Tào Động Tông được lan rộng khắp toàn quốc. Mặt khác, sau vị tổ đời thứ 3 là Nghĩa Giới, Vĩnh Bình Tự có Nghĩa Diễn ()Đệ Tử của Hoài Trang lên kế thừa và sau đó thì bị hoang phế; nhưng nhờ có Nghĩa Vân ()—vị tăng nhà Tống sang Nhật vì mến mộ Đạo Phong của Đạo Nguyên và là Đệ Tử của Tịch Viên (), tổ Khai Sơn Bảo Khánh Tự (, Hōkei-ji)—xuất hiện, tiến hành phục hưng ngôi Già Lam và làm cho Tông Phong thịnh vượng. Vì thế, Nghĩa Vân được gọi là vị tổ trung hưng của Vĩnh Bình Tự. Từ đó về sau, ngôi tổ đình này được hộ trì bởi Phái Tịch Viên () cho đến vị tổ đời thứ 37 là Thạch Ngưu Thiên Lương (). Tào Động Tông thời Trung Đại phát triển với trung tâm của giáo đoàn Tổng Trì Tự. Ngoài ra, Vĩnh Bình Tự, Đại Từ Tự (, Daiji-ji) ở vùng Phì Hậu (, Higo) do Hàn Nham Nghĩa Duẫn () Khai Sơn, Đại Thừa Tự (, Daijō-ji) vùng Gia Hạ (, Kaga) do Nghĩa Giới () khai sáng, Vĩnh Quang Tự (, Eikō-ji) ở Năng Đăng (, Noto) do Oánh Sơn sáng lập, Chánh Pháp Tự (, Shōbō-ji) ở Lục Áo (, Mutsu) do Vô Để Lương Thiều ()Đệ Tử của Nga Sơn—Khai Sơn, v.v., đã trở thành những ngôi chùa Bản Sơn (chùa tổ) của mỗi dòng phái, mở rộng giáo tuyến của họ khắp toàn quốc. Theo điều tra trong khoảng niên hiệu Diên Hưởng (, 1744-1748), cho biết rằng tổng số tự viện Tào Động Tông trên toàn quốc là 17.549 ngôi. Tào Động Tông thời Cận Đại phối hợp các tự viện trên toàn quốc trực thuộc vào Vĩnh Bình TựTổng Trì Tự dưới chế độ quản lý tự viện của chính quyền Mạc Phủ để xác lập mối quan hệ chùa tổ chùa con mang tính phục tùng. Các tự viện của Tào Động Tông trên toàn quốc được chia đều theo từng tiểu quốc, mỗi nơi đều có cơ sở quản lý chung như ba ngôi danh sát Tổng Ninh Tự (, Sōnei-ji) ở vùng Hạ Tổng (, Shimōsa), Long Ổn Tự (, Ryūon-ji) ở Võ Tàng (, Musashi), Đại Trung Tự (, Daichū-ji)Hạ Dã (, Shimotsuke). Tào Động Tông đã trải qua một lịch sử đấu tranh cam go làm thế nào để thoát xác khỏi thể chế phong kiến dưới Thời Đại Giang Hộ (, Edo) và làm sao để đưa ra một thể Chế Giáo cho phù hợp với thời đại mới. Việc biên soạn bộ Tu Chứng Nghĩa () được công bố vào năm thứ 23 (1890) niên hiệu Minh Trị (, Meiji) như là tiêu chuẩn để làm an tâm cho tăng lẫn tục, đã nói lên cuộc tranh đấu này. Tào Động Tông ngày nay kính ngưỡng hai vị tổ: Đạo NguyênCao Tổ và Oánh Sơn là Thái Tổ, tôn sùng cả Vĩnh Bình Tự lẫn Tổng Trì Tự như là hai ngôi Đại Bản Sơn (, Daihonzan, ngôi chùa tổ lớn) và hình thành nên Tông Phái lớn nhất của Phật Giáo Nhật Bản với số lượng tự viện trên 14.000 ngôi. Theo thống kê của Bộ Văn Hóa (1998), hiện tại Tào Động Tông có 14.699 ngôi chùa và 1.579.301 tín đồ. Một số dòng phái khác (theo thứ tự tên dòng phái, ngôi chùa trung tâm) của Tông này là: (1) Phái Oánh Sơn (, Keizan-ha), Tổng Trì Tự (, Sōji-ji)Vĩnh Quang Tự (, Yōkō-ji); (2) Phái Minh Phong (, Meihō-ha), Vĩnh Quang Tự (, Yōkō-ji); (3) Phái Nga Sơn (, Gasan-ha), Tổng Trì Tự (, Sōji-ji); (4) Phái Thái Nguyên (, Taigen-ha), Phật Đà Tự (, Budda-ji); (5) Phái Thông Huyễn (, Tsūgen-ha), Vĩnh Trạch Tự (, Yōtaku-ji); (6) Phái Hàn Nham (, Kangan-ha), Đại Từ Tự (, Daiji-ji); và (7) Phái Tâm Việt (, Shinetsu-ha), Kỳ Viên Tự (, Gion-ji). Ngoài Vĩnh Bình Tự và Tổng Trì Tự là hai ngôi chùa Bản Sơn trung tâm của Tông Phái cũng như các ngôi chùa đã nêu trên, còn có nhiều ngôi tự viện nổi tiếng khác được xem như Chuyên Môn Tăng Đường như: Chánh Pháp Tự (, Shōhō-ji, Iwate-ken []); Trường Cốc Tự (, Chōkoku-ji, Tōkyō-to []); Tối Thừa Tự (, Saijō-ji, Kanagawa-ken []), Trường Quốc Tự (, Chōkoku-ji, Nagano-ken []), Diệu Nham Tự (, Myōgon-ji, Aichi-ken []), Đại Thừa Tự (, Daijō-ji, Ishikawa-ken []), Ngự Đản Sanh Tự (, Gotanjō-ji, Fukui-ken []), Hưng Thánh Tự (, Kōshō-ji, Kyōto-fu []), Động Tùng Tự (, Tōshō-ji, Okayama-ken []), Tuyền Nhạc Tự (, Sengaku-ji, Tōkyō-to), Cao Nham Tự (, Kōgan-ji, Tōkyō-to), Thanh Tùng Tự (, Seishō-ji, Tōkyō-to), Tu Thiền Tự (, Shuzen-ji, []), Đại Thuyền Quán Âm Tự (, Ōfunakannon-ji, Kanagawa-ken), v.v.