Tánh Hải, Tính Hải

《性海》 xìng hǎi

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: chỉ cho biển của bản tánh (thật tánh), và lấy đây để tỷ dụ cho lý tánh của Chân Như sâu rộng như biển cả. Đây cũng là cảnh của Pháp Thân Như Lai. Như trong bài tựa của Đại Đường Tây Vức Ký (西, Taishō Vol. 51, No. 2087) quyển 1 có đoạn: “Văn bất văn ư sanh diệt chi tế, quách quần nghi ư tánh hải, khải Diệu Giác ư Mê Tân (, nghe không nghe nơi sanh diệt ngằn mé, mở nghi ngờ nơi biển tánh, bày giác ngộ nơi bến mê).” Hay trong Đôn Hoàng Biến Văn Tập (), phần Duy Ma Cật Kinh Giảng Kinh Văn (), cũng có đoạn: “Vấn ngã tâm, quy tánh hải, tánh hải trực ưng phi nội ngoại (, hỏi tâm ta, về biển tánh, biển tánh trực tiếp chẳng trong ngoài).” Trong bài Quảng Châu Đông Hoàn Huyện Tư Phước Tự Xá Lợi Tháp Minh () của Tô Thức (, 1037-1101) nhà Tống có câu: “Thử thân tánh hải Nhất Phù Âu, ủy thuế như di bất tự thâu (, thân này biển tánh bọt nước trôi, lột xác đi rồi lấy được đâu).” Hoặc trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) có ghi lại bài kệ của Thiền Sư Nam Nhạc Huệ Tư (, 515-577) khi Thị Tịch rằng: “Đạo Nguyên bất viễn, tánh hải phi dao, đản hướng kỷ cầu, mạc tùng tha mích, mích tức bất đắc, đắc diệc bất chân, Khấu Băng Cổ Phật (, nguồn đạo chẳng xa, biển tánh rất gần, chỉ hướng mình tìm, chớ theo người khác, tìm thì không được, được cũng chẳng thật, Phật cổ gõ băng).”

Tánh Hải, Tính Hải. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/tanh-hai-tinh-hai. Truy cập 06/04/2026.