Tam Tỉnh Tự

《三井寺》 sān jǐng sì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Mii-derahay Viên Thành Tự (, Onjō-ji): ngôi chùa trung tâm của Thiên Thai Tự Môn Tông (), hiện tọa lạc tại số 246 Onjōji-chō (), Ōtsu-shi (), Shiga-ken (), nói cho đúng là Trường Đẳng Sơn Viên Thành Tự (), nhưng thường được gọi là Tam Tỉnh Tự, hay Ngự Tỉnh Tự (), và rất nổi tiếng là ngôi chùa linh thiêng thứ 14 trong số 33 ngôi Danh Lam ở vùng Tây Quốc (西) được mọi người thường đến tham bái. Tượng thờ chính là Di Lặc Bồ Tát. Suốt trong thời gian từ thời Bình An cho đến Liêm Thương, chùa đã từng đối kháng với Tỷ Duệ Sơn (, Hieizan), rồi cùng với Hưng Phước Tự (, Kōfuku-ji) ở vùng Nam Đô, chùa còn nuôi dưỡng lớp Tăng Binh để tranh đấu với hàng võ môn, là một trong những ngôi tự viện có quyền lực mạnh nhất đương thời. Sau khi Thiên Trí Thiên Hoàng (, Tenchi Tennō) băng hà, chùa bắt đầu được dựng lên bởi vị Hoàng Tử của Hoằng Văn Thiên Hoàng (, Kōbun Tennō)Đại Hữu Dữ Đa Vương () cúng dường khu đất của ông. Đến năm 859 (Trinh Quán [] nguyên niên), Trí Chứng Đại Sư Viên Trân (, Enchin) tái kiến lại chùa. Có thuyết cho rằng tên gọi Tam Tỉnh Tự vốn phát xuất từ sự việc phía sau Kim Đường của chùa có một cái giếng, người ta thường dùng nước giếng này để hành lễ Tam Bộ Quán Đảnh (), cho nên chùa có tên như vậy. Cũng có thuyết cho rằng chính nước giếng này được dùng để tắm rửa cho ba vị Thiên Hoàng Thiên Trí (, Tenchi), Thiên Võ (, Temmu) và Trí Thống (, Jitō) khi vừa mới sinh ra. Chùa này ngày xưa là ngôi Biệt Viện của Diên Lịch Tự (, Enryaku-ji), Môn Đồ của chùa đã từng tranh đấu với Môn Đồ của Viên Nhân (, Ennin) trên Tỷ Duệ Sơn; cuối cùng vào năm 993 (Chánh Lịch [] 4), chùa tách riêng ra trở thành ngôi chùa tổ trung tâm. Đến cuối thời Bình An, chùa có khoảng 80 ngôi Đường Tháp, 600 Tăng Phòng; song chùa cũng đã gặp mấy lần hỏa hoạn, bị cháy tan tành. Ngôi Già Lam hiện tại có thể nói là kiến trúc tái kiến của mấy vị Tướng Quân nổi tiếng đời đầu của dòng họ Đức Xuyên (, Tokugawa) là Gia Khang (, Ieyasu), Tú Trung (, Hidetada), v.v. Hiện tại chùa được liệt vào một trong 4 ngôi tự viện lớn nhất Nhật Bản. Một phần rất rộng lớn của chùa nằm trên núi, lấy Quan Âm Đường làm trung tâm; một phần thì nằm dưới chân núi, chủ yếu là phối trí các ngôi Đường Tháp. Nơi Quan Âm Đường có tôn thờ tượng Như Ý Luân Quan Âm bằng gỗ Chiên Đàn, là một trong 33 chốn linh trường của vùng Tây Quốc. Tương truyền tượng này là tác phẩm của vị Tổ Khai Sơn Trí Chứng Đại Sư (). Ngôi đường hiện tại là kiến trúc được xây dựng vào năm 1689. Trong núi có Kim Đường, là kiến trúc được xây dựng vào năm 1252 (Kiến Trường [] 4), được xếp vào hạng Quốc Bảo. Các ngôi Khách Đường ở Khuyến Học Viện cũng như ở Quang Tịnh Viện cũng đều là Quốc Bảo. Cách đó khoảng 3 cây số về phía Bắc có Tân La Thiên Thần Đường (), trong đó Tu Di Đàn cũng được xếp hạng Quốc Bảo. ngoài ra trong khuôn viên chùa còn có Nhân Vương Môn, Tam Trùng Tháp, Lầu Chuông, Đường Viện, Kinh Đường, Nhà Ăn, Tỳ Sa Môn Đường, v.v., đều là những kiến trúc được xếp hạng tài sản văn hóa trong yếu của quốc gia, và quanh đó cũng có rất nhiều ngôi Đường Tháp lớn nhỏ. Nơi Kinh Tàng có lưu trữ những bản Kinh Tạng Cao Lệ (Triều Tiên). Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ vô số các bảo vật khác.