Tam Huyền

《三玄》 sān xuán

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có mấy nghĩa khác nhau. (1) Từ gọi chung của các nhà Huyền Học thời Ngụy Tấn (, 220-589) đối với 3 thư tịch Lão Tử (), Trang Tử () và Chu Dịch (). Đạo Giáo cũng dùng đến thuật ngữ này. Như trong Nhan Thị Gia Huấn (), chương Miễn Học (), giải thích rằng: “Kịp ư Lương thế, tư phong phục xiển, Trang, Lão, Chu Dịch, tổng vị Tam Huyền (, đến thời nhà Lương, phong thái này lại được mở ra, Trang Tử, Lão Tử và Chu Dịch, gọi chung là Tam Huyền).” (2) Chỉ cho mặt trời, mặt trăng và sao. Như trong Vân Cấp Thất Thiêm () có đoạn: “Thiên Hữu Tam Huyền, vị nhật, nguyệt, tinh dã (, trời có Tam Huyền, tức là mặt trời, mặt trăng và sao).” (3) Thuật ngữ Thiền, chỉ cho 3 loại áo nghĩa, giáo chỉ do Thiền Sư Tế Nghĩa Huyền (, ?-866) của Lâm Tế Tông tuyên xướng; gồm: (1) Thể Trung Huyền (), (2) Cú Trung Huyền (), (3) Huyền Trung Huyền (). Trong một câu có Ba Huyền, trong một Huyền có Ba Yếu, tổng cọng có 9 pháp. Như trong Tục Truyền Đăng Lục (, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 9, phần Đông Kinh Hoa Nghiêm Phổ Tư Thiền Sư (), có đoạn: “Sư vi nhân thanh tú kiệt xuất, xướng Lâm Tế Hạ Tam Huyền Cửu Đái, tạo Tào Động Ngũ Vị Thập Huyền, giai diệu đắc kỳ Gia Phong yếu chỉ (, Thiền Sư là người thanh tú kiệt xuất, Cổ Xướng Ba Huyền Chín Pháp của Lâm Tế, tạo ra Năm Vị Mười Huyền của Tào Động, đều đạt được Gia Phong yếu chỉ của người một cách diệu xảo).” Hay trong bài thơ Tiên Hòa Thượng Tọa Thoát () của Triệu Phong (, ?-?) nhà Kim cũng có đoạn: “Dũng Để Thoát thời vô nhất vật, cơ luân chuyển xứ hữu Tam Huyền (, đáy thùng vỡ rồi chẳng một vật, Cơ Phong chuyển hóa có Ba Huyền).” Hoặc trong Liệt Tổ Đề Cương Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 64, No. 1260) quyển 38, phần Đầu Thủ Tứ Tiết Bỉnh Phất (), lại có câu: “Hoát khai Tam Yếu Tam Huyền lộ, tọa đoạn Tu Di đệ nhất phong (, mở toang Ba Yếu Ba Huyền nẻo, nghiễm nhiên ngồi chót đỉnh Tu Di).”