Tam Chủng Thị Đạo
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm;Trìịi pràtihàryàịi. Pàli: Tìịi pàỉihàriyàni. Cũng gọi Tam Thị Hiện, Tam Giáo hóa Tam biến hiện, Tam luân, Tam Nghiệp luân, Tam thần túc, Tam Chủng Thần Biến. Ba thứ thị đạo, là đức dụng của 3 nghiệp thân, khẩu, ý do Phật, Bồ Tát Thị Hiện để giáo hóa Chúng Sinh. Cứ theo kinh Đại Bát Nhã quyển 469 thì Bồ Tát có 3 thứ thị đạo là:
1. Thần Biến thị đạo: Bồ Tát vì thương xót nỗi khổ trong Địa Ngục kia nên Thị Hiện sức Thần Thông, diệt trừ các Khổ Cụ như nước sôi, dao kiếm, khiến cho Chúng Sinh nhờ sức Thần Biến này được ra khỏi Địa Ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui.
2. Kí Thuyết Thị đạo: Bồ Tát vì thương xót nỗi khổ trong Địa Ngục kia, nên ghi lấy những điều mà Chúng Sinh nghĩ trong tâm rồi nói pháp cho họ nghe, khiến Chúng Sinh nhờ sức pháp này được ra khỏi Địa Ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui.3. Giáo giới thị đạo: Bồ Tát vì thương xót nỗi khổ trong Địa Ngục kia, nên phát tâm từ bi hỉ xả, nói pháp dạy răn, khiến các Chúng Sinh nhờ sự dạy răn này, được ra khỏi Địa Ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui. Còn cứ theo luận Câu xá quyển 27 thì 3 thứ thị đạo là:
1. Thần Biến thị đạo (Phạm:Fidhipratihàryaô).
2. Kí tâm thị đạo (Phạm:Anuzàsanìpratihàryaô).
3. Giáo giới thị đạo (Phạm:Àdesapratihàryaô). Ba thứ Thị đạo này tương đương với 3 thông trong 6 thông, tức là Thần Biến thị đạo tương đương với Thần cảnh thông, Kí tâm thị đạo tương đương với Tha Tâm Thông và Giáo giới thị đạo thì tương đương với Lậu Tận thông. Lại vì Thần Biến, Kí tâm là để giáo hóa Ngoại Đạo khiến họ qui phục mà tin nhận, còn Giáo giới là để khiến họ phát tâm tu hành nên được xem là tôn quí và Thù Thắng nhất. Ngoài ra, luận Du Già sư địa quyển 27, kinh Đại bảo tích quyển 86, kinh Trung a hàm quyển 35, kinh Trường a hàm quyển 16, kinh Tạp a hàm quyển 8... đều có thuyết Tam Chủng Thị Đạo, hoặc Tam Thị Hiện, Tam thần túc, nhưng nội dung hơi khác. [X. luận Tập dị môn túc Q. 6.; luận Tạp a tì đàm tâm Q. 6.; luận Đại tì Bà Sa Q. 103.]. (xt. Lục Thông, Thị Hiện).
1. Thần Biến thị đạo: Bồ Tát vì thương xót nỗi khổ trong Địa Ngục kia nên Thị Hiện sức Thần Thông, diệt trừ các Khổ Cụ như nước sôi, dao kiếm, khiến cho Chúng Sinh nhờ sức Thần Biến này được ra khỏi Địa Ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui.
2. Kí Thuyết Thị đạo: Bồ Tát vì thương xót nỗi khổ trong Địa Ngục kia, nên ghi lấy những điều mà Chúng Sinh nghĩ trong tâm rồi nói pháp cho họ nghe, khiến Chúng Sinh nhờ sức pháp này được ra khỏi Địa Ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui.3. Giáo giới thị đạo: Bồ Tát vì thương xót nỗi khổ trong Địa Ngục kia, nên phát tâm từ bi hỉ xả, nói pháp dạy răn, khiến các Chúng Sinh nhờ sự dạy răn này, được ra khỏi Địa Ngục, sinh lên cõi trời, cõi người, hưởng mọi thú vui. Còn cứ theo luận Câu xá quyển 27 thì 3 thứ thị đạo là:
1. Thần Biến thị đạo (Phạm:Fidhipratihàryaô).
2. Kí tâm thị đạo (Phạm:Anuzàsanìpratihàryaô).
3. Giáo giới thị đạo (Phạm:Àdesapratihàryaô). Ba thứ Thị đạo này tương đương với 3 thông trong 6 thông, tức là Thần Biến thị đạo tương đương với Thần cảnh thông, Kí tâm thị đạo tương đương với Tha Tâm Thông và Giáo giới thị đạo thì tương đương với Lậu Tận thông. Lại vì Thần Biến, Kí tâm là để giáo hóa Ngoại Đạo khiến họ qui phục mà tin nhận, còn Giáo giới là để khiến họ phát tâm tu hành nên được xem là tôn quí và Thù Thắng nhất. Ngoài ra, luận Du Già sư địa quyển 27, kinh Đại bảo tích quyển 86, kinh Trung a hàm quyển 35, kinh Trường a hàm quyển 16, kinh Tạp a hàm quyển 8... đều có thuyết Tam Chủng Thị Đạo, hoặc Tam Thị Hiện, Tam thần túc, nhưng nội dung hơi khác. [X. luận Tập dị môn túc Q. 6.; luận Tạp a tì đàm tâm Q. 6.; luận Đại tì Bà Sa Q. 103.]. (xt. Lục Thông, Thị Hiện).