Số Luận
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Số kinh. Tên gọi khác củaLuận tạng thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Tát Bà Đa bộ) Tiểu Thừa, cũng là từ gọi thay cho Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Chữ số trong Số Luận có 2 nghĩa, một là Tuệ số, hai là Pháp Số. Nói theo nghĩa Tuệ số thì trong Tam Học của Tam Tạng, Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ chú trọng về A tì đàm, vì thế cũng gọi là Tì đàm tông. Giáo nghĩa của tông Tì đàm hiển bày là dùng Tuệ học để Đoạn Hoặc chứng lí, nhưng Tông Nghĩa của tông này lại đặc biệt chú trọng Tâm Sở Hữu Pháp mà thời xưa cũng gọilàTâm số, do đó, có thể thấy tông này lấyTuệ số làm gốc, vì thế nên tên Luận tạng của tông này cũng gọi là Số Luận. Nếu nói theo nghĩa Pháp Số thì Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ lập 75 Pháp Số; hơn nữa, Tông Nghĩa của tông này cũng là căn bản Pháp Số của Phật giáo, vì thế mà pháp do tông này nói hoặc Luận tạng do tông này y cứ được gọi là Số Luận. Từ thời đại Nam Bắc Triều đến khoảng đầu đời Đường, giới Phật giáo Trung Quốc quen gọi các vị Luận sư của tông Thành thực là Luận Gia, gọi các vị Luận sư của tông Địa luận là Địa sư và gọi các vị Luận sư của tông Nhiếp luận là Nhiếp sư, theo đó nên gọi các Luận sư của tông Tì đàm là Số gia, Số sư, Số nhân... Ngoài ra, trong 6 phái Triết học ở Ấn Độ, phái được thành lập sớm nhất cũng gọi là Số Luận (Phạn: Saôkhya), Tông Nghĩa của phái này dùng trí tuệ Phân Biệt để suy tính các pháp và theo đó mà đặt tên là Số Luận. Mặc dù tên gọi của phái này đồng với tông Tì đàm của Tiểu Thừa, nhưng giáo nghĩa và chỉ thú của 2 phái thì khác nhau rất xa, cho nên xưa nay trong Kinh Điển Phật giáo thường gọi phái này là Số Luận Ngoại Đạo để Phân Biệt với Số Luận Tì đàm của Phật giáo. [X. Pháp Hoa Huyền Luận Q. 8., 10; Duy Ma nghĩa sớ Q.trung; Duy Ma Kinh am la kí Q. 16.; Ma Ha Chỉ Quán Q. 5. thượng, 6 thượng; Đại Thừa Huyền Luận Q. 2., 5]. (xt. Tì Đàm Tông).