Quyển Tử Bản
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Bản sách cuốn tròn, tức là viết chữ trên 1tờ giấy dài rồi cuốn lại thành hình ống tròn, 1 trong những hình thức đóng sách ở đời xưa. Từ rất sớm, các quốc gia phương Tây đã có Quyển Tử Bản bằng giấy hoặc bằng da thú. Trung Quốc nhờ đã phát minh ra giấy, nên từ đời Đông Hán về sau, trong khoảng 1.000 năm, Quyển Tử Bản đã trở thành hình thức tiêu chuẩn cho tất cả các loại sách vở, trong đó có cả Kinh Điển Phật giáo. Những Quyển Tử Bản phát hiện được ở vùng Trung á hầu như đều là những sản phẩm dưới ảnh hưởng nền văn hóa của Trung Quốc. Ngoài chữ Hán ra còn có chữ Túc đặc, chữ Tây tạng, chữ Hồi hột, chữ Tây Hạ...đều được viết trên giấy, tập trung ở các khu vực Đôn hoàng, Cao xương, thành Hắc thủy...Trong đó, Quyển Tử Bản chữ Hán chiếm phần lớn, vả lại, giấy viết phần nhiều cũng được vận chuyển từ Trung Quốc đến. Các dụng cụ để viết thì có bút lông thỏ, bút gỗ, cọng lau...Trong những bản sao đào được ở Đôn hoàng phần nhiều là Quyển Tử Bản kinh Phật bằng chữ Hán, còn các Kinh Điển của Ma Ni Giáo, Kinh Điển của Cảnh Giáo tìm thấy ở Cao xương cũng là Quyển Tử Bản, nhưng có vẻ khác với Quyển Tử Bản của Trung Quốc. Quyển Tử Bản chép Kinh Điển Phật bằng chữ Hán thông thường từ 20 đến 30 trang giấy được dán dính lại với nhau bằng hồ, chiều dài trang giấy khoảng 40 cm, rộng từ 40 đến 80 cm. Về chiều hướng viết và đọc thì tùy theo các loại văn tự mà có khác nhau. Như chữ Hán và chữ Tây Hạ thì viết theo hàng dọc từ bên phải sang bên trái, hàng cuối cùng ở bên trái; chữ Túc đặc và chữ Hồi hột thì viết theo hàng ngang, cũng từ phải sang trái; còn chữ Tây tạng thì viết ngang từ trái sang phải, hàng cuối cùng ở phía dưới. Vì ngày xưa giấy rất quí nên có khi người ta viết chữ vào những chỗ trắng ở mặt sau của trang giấy, giữa khoảng các dòng chữ đã viết ở mặt trước. Ngoài ra, có khi Quyển Tử Bản được làm bằng tơ lụa, vải thô hoặc vỏ cây Hoa. Quyển Tử Bản bằng vỏ cây Hoa hiện nay chỉ tìm thấy 1 quyển ở Hòa điền, đó là quyền kinh Pháp cú được sao chép vào khoảng thế kỉ II từ văn tự địa phương Ca La thuộc Kiện đà la. Hình thức quyển kinh này là 2 đầu phải và trái của những trang vỏ cây Hoa được đính lại với nhau bằng chỉ; văn kinh được viết theo chiều rộng của trang vỏ cây và viết ngang từ phải sang trái, hàng cuối cùng ở phía dưới. Qua suy đoán, nguồn gốc của Quyển Tử Bản này có vẻ Như Không dính dáng gì đến nến văn hóa của Trung Quốc.