Quý Tộc
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chế độ Quí tộc của Ấn Độ bắt đầu khoảng 1.000 năm trước Tây lịch, khi giống dân Aryan từ vùng Ngũ hà (Punjab) dần dần di chuyển về hướng đông, đến mãi sông Jumna và khoảng giữa Sông Hằng, chiếm lấy vùng đất đồng bằng và mầu mỡ (tức vùng trung tâm kinh tế, chính trị của Ấn Độ). Sau khi cuộc tiến chiếm kết thúc, người Aryan thiết lập 1 chế độ xã hội, tự xưng mình là Bà La Môn, tức giai cấp cao nhất, còn dân địa phương bị chinh phục thì phải làm nô lệ. Đến khoảng 500 năm trước Tây lịch, nền văn hóa Ấn Độ đã xảy ra 1 cuộc thay đổi lớn. Trung tâm văn hóa dần dần di chuyển về phía đông; các Đô Thị mới mọc lên, các giai cấp mới cũng lần lượt quật khởi, uy quyền của giái cấp Bà La Môn dần dần bị giai cấp Vũ sĩ (Phạm: Kwatriya, Sát Đế Lợi) thay thế.Đức Phật đã ra đời vào thờikì này. Tuy xuất thân từ dòng quí tộc, nhưng đức Phật vẫn lấy việc thực hiện Pháp (Phạm: Dharma) làm Tông Chỉ, Ngài thường nói: Không kể dòng dõi, chỉ kể sự tu hành. Tức không nhìn vào trang phục, dòng dõi, gốc tích mà cho là quí tộc, chỉ xem người ấy có khả năng giác ngộ Chân Lí và theo đúng pháp tu hành mà cho là quí. Do đó, những người vào tăng đoàn, không kể sang hèn, bất luận thuộc giai cấp nào đều gọi là Thích Tử.