Quỷ Biện
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Biện luận một cách kỳ quái. Ở khoảng thế kỷ V trước Tây lịch, lối biện luận này được gọi là Quỉ biện học (Sophist) chuyên về thuật tranh luận kì quái. Ở một phương diện thì quỉ biện mang lại cái tinh thần phê phán, nhưng ở một mặt khác, nó lại hãm người ta vào cái thế biện luận quỉ quyệt, đoạt lời cướp lí. San xà da (Phạm, Pàli: Saĩjaya) trong 6 phái Ngoại Đạo ở Ấn Độ tức là người chủ trương Quỉ biện luận (Pàli:Amara-ikkepika). Sự biện luận của họ nhiều mưu gian. khéo léo trơn tru, giống như cá chạch, khó nắm bắt được, hơn nữa, vì nó thiếu giá trị tri thức chính xác nên còn được gọi là Bất khả tri luận (Pàli: Ajĩàna - vàda). Cứ theo phẩm Lô ca da đà và Trường bộ kinh chú (Sumaígala-vilàsinì) tiếng Pàli, Ngoại Đạo Thuận thế (Phạm, Pàli: Lokàyata, Hán âm: Lô ca da đà, Lộ già da tha) trong các Ngoại Đạo Ấn Độ thời xưa là 1 học phái quỉ biện nổi tiếng; họ rất giỏi thuật biện luận kì quặc (Pàli: Vitaịđa-vàda-satthà), thường dùng những lời nói quanh co, khéo léo để Mê Hoặc người đời, bác bỏ thần cách truyền thống của Bà La Môn, ngoài 4 Đại Chủng (đất, nước, lửa, gió) còn lập thêm linh ngã và chủ trương chủ nghĩa khoái lạc của Duy vật luận. TrongLuận lí học của Ấn Độ, Quỉ biện luận được xem là 1 yếu tố lớn của Luận lí học, nhưng Phật giáo thì cho đó là Hí Luận (Phạm:Prapaĩca). [X. Đại Thừa Quảng Bách Luận Thích Luận Q. 2.; luận Thành Duy Thức Q. 1.; luận Kim thất thập].