Quế Nguyệt

《桂月》 guì yuè

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có hai nghĩa chính:(1) Chỉ mặt trăng; vì truyền thuyết cho rằng trên mặt trăng có cây quế, nên có tên như vậy. Như trong bài Đông Phi Bá Lao Ca () thuộc Tạp Khúc Ca Từ Bát () của Lạc Phủ Thi Tập () có câu: “Nam song Bắc dũ Quế Nguyệt quang, la duy ỷ trướng chỉ phấn hương (, cửa Nam song Bắc tỏa sáng trăng, rèm the màn lưới phấn sáp thơm).” Hay trong bài Chung Nam Sơn Nghĩa Cốc Minh () của Dữu Tín (, 513-581) nhà Bắc Chu có câu: “Quế Nguyệt nguy huyền, phong tuyền hư vận (, mặt trăng treo cao, suối reo tiếng lắng).” Hoặc trong bài Đối Nguyệt Liễu Tàn Kinh () của Liễu Đường Duy Nhất Thiền Sư Ngữ Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1417) quyển 4 lại có đoạn: “Thiên biên Quế Nguyệt quyên quyên, lô thượng đàn yên kiêu kiêu, Khoáng Kiếp tằng khan để kinh, vị triển quyển thời đô liễu (, bên trời trăng tỏ xinh xinh, trên lò khói bốc nghi ngút, muôn kiếp từng đọc bao kinh, khi chưa mở ra đã ngộ).” (2) Chỉ cho tháng Tám Âm Lịch, vì vào tháng này hoa quế nở rộ, nên có tên như vậy. Như trong bài Tăng Chi Kim Lăng (, Tăng Đi Kim Lăng) của Hư Đường Hòa Thượng Ngữ Lục (, q.7, Taishō Vol. 47, No. 2000) quyển 7 có đoạn: “Lương tiêu Quế Nguyệt cảnh trung đình, củng tại thanh sa diệp để minh, biệt ngã Thốn Tâm như thốn thiết, bất tri Nam quốc kỉ đa trình (, đêm nay trăng tỏ rạng mái đình, dế mèn dưới cỏ kêu ỏi inh, mình ta tấc lòng như nặng trĩu, chẳng hay nước Nam mấy dặm trình).”