Quảng Thắng Tự
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chùa ở phía nam Hoắc Sơn, huyện Triệu Thành, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, tương truyền được sáng lập vào khoảng năm Kiến Hòa (147-149) đời Hậu Hán, nhưng không có bằng chứng xác thực. Cứ theo điều Chu tấn châu Hoắc Sơn Nam tháp duyên trong Tập Thần Châu Tam Bảo Cảm Thông Lục quyển thượng của ngài Đạo Tuyên đời Đường, thì ngôi tháp ở phía nam Hoắc Sơn là 1 trong các tháp của vua A dục. Cứ theo Sắc lệnh năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường cho xây chùa Quảng Thắng, thì Ngũ nguyên Quận vương là Lí quang toản tâu vua xin xây 1 ngôi chùa ở tháp viện vua A dục, nhà vua cho phép bằng Sắc lệnh trên và ban hiệu là Đại Lịch Quảng Thắng Chi Tự. Đây chính là thời gian sáng lập chùa này, tức năm Đại lịch thứ 4 (769) đời Đường. Về sau, trải qua nhiều lần trùng tu, đến đời Nguyên đã có trên trăm gian Điện Đường. Đến đời Minh, vận chùa suy sụp, tháp cũng đổ nát, ngài Đạt liên quyên tiền sửa chữa, ngói lưu li được dùng để trùng tu tòa tháp, chạm trổ trang sức khá lộng lẫy, được liệt vào hàng đệ nhị tháp (Đệ nhất tháp là tháp lưu li chùa Báo ân ở Nam Kinh). Tháp này xây bằng gạch hình bát giác, gồm 13 tầng, cao 36 trượng, lợp bằng ngói lưu li, có nhiều hình chạm nổi như rồng, voi, ngựa, chùa tháp....; bên trong tháp thờ tượng Phật bằng đồng, tháp Xá Lợi nhỏ... Nền tháp có nhà lang bao quanh, vốn để thờ các tôn tượng, rất tiếc nay chỉ còn Đài Tòa mà thôi. Trong chùa có cất giữ Đại Tạng Kinh được khắc in vào đời Kim, là tư liệu cực kì quí giá. Ngoài ra còn có bản bổ sung của chùa Hoằng pháp được khắc vào đời vua Thái tông nhà Nguyên, các bản bổsung ở đời Minh, Thanh và các loại Chương Sớ nằm ngoài Đại tạng. Cách chùa này không xa, ở chân núi phía trước còn có chùa Quảng thắng hạ. Gần chùa hạ có suối Hoắc, trên suối có miếu thờ Minh ứng vương, cũng gọi là miếu Thủy thần, chính điện được xây cất vào năm Diên hựu thứ 6 (1319) đời vua Nhân tông nhà Nguyên. Đầu năm Chí nguyên (1264-1294) đời Nguyên, Giới sư Đạo khai ở chùa Quảng thắng dời miếu Minh ứng vương về nền chùa này, bên cạnh đó cất tăng xá, từ đời Minh đến nay, miếu này được gọi là chùaQuảng thắng hạ. Cửa phía nam, An Vị tượng Tứ Thiên Vương, điện Tì lô thờ tượng Như Lai, 2 bên vách có vài mươi tượng Chư Thiên, chính điện thờ 3 tượng Phật (Phật Tam Thế) và tượng Quan đế nhỏ..., vách phía nam có vẽ tượng các ngài Vô trước, Thế Thân... Nay phần nhiều đã bị tróc, chỉ còn lại dấu vết. [X. Tống tạng di trân tự mục; Bình dương phủ chí Q. 33.; Đại thanh nhất thống chí Q. 99., 116; Chi Na văn hóa sử tích giải thuyết Q. 8.].