Quán Tâm Thích Hoa Nghiêm Kinh Đề
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Dùng Nhất Tâm Pháp Giới để giải thích đề kinh Hoa nghiêm. Tên đầy đủ của kinh Hoa nghiêm là: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Hoa Nghiêm Kinh Sớ dùng Nhất Tâm Pháp Giới để giải thích từng chữ trong 7 chữ của đề kinh Hoa nghiêm. Cách giải thích như sau:
1. Đại là thể của tâm: Đại Nghĩa là thường hằng, trúm khắp; Thể là thể của tâm. Thể của tâm chứa đựng Pháp Giới, xứng tính chu biến, bình đẳngrộng lớn, không có đổi dời, cũng không có ngằn mé, cho nên gọi ‘Đại là thể của tâm.
2. Phương là tướng của tâm: Phương tức là phương pháp; Tướng tức là quĩ trì. Nghĩa là vô biên pháp tướng, hằng sa tính đứcđều do1 tâm duy trì dung nhiếp, vì thế gọi Phương là tướng của tâm.
3. Quảng là dụng của tâm: Quảng là rộng lớn, dụng là nghiệp dụng. Nghĩa là nghiệp dụng của tâm rộng lớn vô biên, có năng lực sinh ra muôn pháp và ứng dụng vô tận, vì thế gọi Quảng là dụng của tâm.
4. Phật là quả của tâm: Phật tức bậc giác ngộ; Quả tức là quảbồ đề.Nghĩa là bậc lìa các Phiền Não, rõ biết muôn pháp, đầy đủ tất cả trí, đượcbồ đề vô thượng,bậc Chứng Đắc quả Bồ Đề của tâm mình, quả này chẳng phải được từ bên ngoài, cho nên gọi Phật là quả của tâm.
5. Hoa là nhân của tâm: Hoa tức ví dụ cho muôn hạnh Công Đức; Nhân tức là hạnh. Nghĩa là Nhân Hoa của muôn hạnh đều là sự khơi mở giác ngộ của tâm, vì thế gọi Hoa là nhân của tâm.
6. Nghiêm là công của tâm: Nghiêm tức Trang Nghiêm; Công tức công dụng. Nghĩa là dùng Nhân Hoa muôn hạnh để tô điểm cho quả thể Pháp Thân, đều là công vận dụng Nhất Tâm, cho nên gọi Nghiêm là công của tâm.
7. Kinh là giáo của tâm: Kinh tức Ngôn Giáo Năng Thuyên; Giáo tức ngôn thượng. Nghĩa là 1 câu 1 lời, các pháp các lí, đều có thể hoằng hóa tất cả, đều là thuyên lượng bao quát của tâm, vì thế gọi Kinh là giáo của tâm.
1. Đại là thể của tâm: Đại Nghĩa là thường hằng, trúm khắp; Thể là thể của tâm. Thể của tâm chứa đựng Pháp Giới, xứng tính chu biến, bình đẳngrộng lớn, không có đổi dời, cũng không có ngằn mé, cho nên gọi ‘Đại là thể của tâm.
2. Phương là tướng của tâm: Phương tức là phương pháp; Tướng tức là quĩ trì. Nghĩa là vô biên pháp tướng, hằng sa tính đứcđều do1 tâm duy trì dung nhiếp, vì thế gọi Phương là tướng của tâm.
3. Quảng là dụng của tâm: Quảng là rộng lớn, dụng là nghiệp dụng. Nghĩa là nghiệp dụng của tâm rộng lớn vô biên, có năng lực sinh ra muôn pháp và ứng dụng vô tận, vì thế gọi Quảng là dụng của tâm.
4. Phật là quả của tâm: Phật tức bậc giác ngộ; Quả tức là quảbồ đề.Nghĩa là bậc lìa các Phiền Não, rõ biết muôn pháp, đầy đủ tất cả trí, đượcbồ đề vô thượng,bậc Chứng Đắc quả Bồ Đề của tâm mình, quả này chẳng phải được từ bên ngoài, cho nên gọi Phật là quả của tâm.
5. Hoa là nhân của tâm: Hoa tức ví dụ cho muôn hạnh Công Đức; Nhân tức là hạnh. Nghĩa là Nhân Hoa của muôn hạnh đều là sự khơi mở giác ngộ của tâm, vì thế gọi Hoa là nhân của tâm.
6. Nghiêm là công của tâm: Nghiêm tức Trang Nghiêm; Công tức công dụng. Nghĩa là dùng Nhân Hoa muôn hạnh để tô điểm cho quả thể Pháp Thân, đều là công vận dụng Nhất Tâm, cho nên gọi Nghiêm là công của tâm.
7. Kinh là giáo của tâm: Kinh tức Ngôn Giáo Năng Thuyên; Giáo tức ngôn thượng. Nghĩa là 1 câu 1 lời, các pháp các lí, đều có thể hoằng hóa tất cả, đều là thuyên lượng bao quát của tâm, vì thế gọi Kinh là giáo của tâm.