Quan Quách
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chỉ cho cái quan tài có 2 lớp: Quan là cái hòm bên trong đặt xác chết, Quách là cái hòm bọc bên ngoài cái quan. Theo kinh Trường a hàm quyển 4, lúc đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, các vị Đệ Tử chiếu theo phép chôn cất vua Chuyển Luân Thánh Vương, trước dùng nước hương nóng tắm gội thân Ngài, sau mặc áo mới rồi dùng 500 tấm dạ mỏng bọc thân đặt vào kim quan, rưới dầu mè vào và đặt kim quan vào trong quách bằng sắt, lại dùng các cái quách bằng gỗ Chiên Đàn thơm xếp chung quanh, chất đống các thứ gỗ hương làm lễ trà tì. Theo Kinh Trủng mộ Nhân Duyên tứ phương thần chú trong kinh Quán đính quyển 6, khi vua Chuyển luân mệnh chung, 3 loại quan tài được dùng để đặt thân của vua, đó là: Tử ma hoàng kim, sắt và Chiên Đàn tạp hương. Nhưng, nghi lễ chôn cất của Ấn Độ nói chung, không dùng Quan Quách, mà trực tiếp đốt xác chết, hoặc để ở trong rừng, hoặc thả xuống sông... Còn ở Trung Quốc vì có tục hậu táng nên có chế độ Quan Quách. Cứ theo Tứ phần Luật Hành sự sao thì chư tăng chỉ dùng quan chứ không dùng quách, chúng Tại Gia phổ thông cũng vậy, chỉ những người sang trọng mới dùng quách. Tại Nhật Bản đời xưa, quan tài của những người giàu sang, thường dùng 2 lớp hoặc 3 lớp quách bọc bên ngoài, đôi khi làm quách bằng đá để bảo tồn thi thể lâu dài. [X. kinh Tịnh Phạn Vương bát Niết Bàn; kinh Phật Bát Nê Hoàn Q.hạ; kinh Ca Diếp phó Phật Niết Bàn; thiên Chiêm bệnh tống chung trong Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.hạ, phần 4; Tứ phần Luật Hành sự sao tư trì kí Q.hạ, phần 4; Phật Tổ Thống Kỉ Q. 4.; Thích Thị Yếu Lãm Q.hạ; Hoài nam tử đệ thập tam phiếm luận huấn; Chu bàn truyện trong Hậu Hán thứ 29; Nhật Bản Thư kỉ 9, 27].