Quán Hưu
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
(832-912) Cao Tăng Trung Quốc sống vào cuối đời Đường Đầu thời Ngũ Đại, người Lan Khê, Vụ Châu (Kim Hoa, Chiết Giang), họ Khương, tự Đức Ẩn, Đức Viễn. Năm 7 tuổi, sư lễ ngài Viên Trinh xin Xuất Gia ở chùa Hòa An, huyện Kim Hoa. Sau khi Thụ Giới Cụ Túc, sư vào núi Ngũ Duệ ở Chiết Đông tu thiền 10 năm, từng tham yết Thiền Sư Vô Tướng. Sau, sư đến chùa Khai Nguyên ở Hồng Châu nghe giảng kinh Pháp hoa và luận Đại Thừa khởi tín, thông hiểu hết nghĩa sâu xa. Sư nổi tiếng về Thi Ca và hội họa. Sư giỏi vẽ tượng Phật, nhất là tượng La hán thủy mặc. Sư vẽ tượng La hán với tướng mạo cổ lỗ, quê mùa, mi rậm, mắt to, mũi cao, má lộ, quai hàm dài, trán rộng, cổ gầy, thể hiện phong mạo người Ấn Độ, là đặc trưng tác phẩm của sư dựa vào chỗ thấy trong mộng. Sư cũng chuyên về cách viết các kiểu chữ triện, lệ, thảo với 1 phong cách độc đáo, người đời gọi lối viết chữ của sư là Khương thể và ví sư với ngài Hoài Tố đời Đường; thơ của sư cũng rất được giới sĩ phu khen ngợi. Khoảng năm Thiên Phục (901-904) đời vua Chiêu Tông, sư vào đất Thục, rất được vua Thục là Vương Kiến kính trọng, ban