Quán Đỉnh Phan

《灌頂幡》 guàn dǐng fān

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Gọi tắt: Quán đính. Lá phan có Công Đức quán đính, nên gọi là Quán đính phan. Có thuyết cho rằng phan này treo thật cao, sao cho đuôi phan chạm vào đỉnh đầu của người, giống như quán đính (rưới đầu), vì thế phụ thêm 2 chữ quán đính làm tên gọi. Ở Ấn Độ đời xưa, khi Thái tử của Chuyển Luân Thánh Vương làm lễ quán đính lên ngôi, thì cờ phan được treo lên để tô điểm cho nghi thức ấy. Về sau, Phật giáo phỏng theo nghi thức này nên dùng phan làm pháp cụ. Thời xưa phan này thường được làm bằng lá đồng mỏng trên đó có chạm trổ. Phẩm Thập Địa trong kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 27 (Đại 9, 572 trung) nói: Ví như Thái tử của Chuyển Luân Thánh Vương đến tuổi đăng quang thì Chuyển Luân Thánh Vương bảo Thái tử ngồi vào tòa làm bằng vàng Diêm phù đàn đặt trên lưng voi trắng báu, phía trên giăng màn, Trang Nghiêm bằng các thứ cờ phan, kĩ nhạc, dùng nước lấy từ 4 biển lớn đựng trong chung vàng rưới lên đỉnh đầu của Thái tử, gọi là Quán đính đại vương. Theo Bí Tạng Kí thì tâm Đại Bi của chư Phật nghĩa là quán, người đời gọi phan là quán đính, cho nên Công Đức của phan, trước làm Luân vương, sau cùng Thành Phật, cho đếnquảPhật gọi là Quán đính, vì vậy lấy quả gọi nhân.