Phó Chúc

《付屬》 fù shǔ

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Phụ chúc, Chúc Lụy. Phó là cấp cho, trao cho; Chúc là gửi gắm, phó thác, dặn dò lại. Từ ngữ này phần nhiều biểu thị ý nghĩa đức Phật phó thác việc hoằng truyền giáo pháp. Chẳng hạn như kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói, đức Thế Tôn Phó Chúc Bồ Tát Di Lặc hoằng truyền Bản Nguyện Niệm Phật(Di Lặc Phó Chúc). Phẩm Như Lai Thần Lực trong kinh Pháp hoa cũng ghi, đức Thế Tôn Phó Chúc 5 chữ trọng yếu nhất là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cho các Bản hóa Bồ Tát, đứng đầu là Bồ Tát Thượng hành. Do đó, tông Nhật Liên của Nhật bản cho rằng sự Phó Chúc kinh Pháp hoa(Đề Mục) là yếu pháp đặc biệt đối với Chúng Sinh tối hạ đẳng trong thời đại Mạt Pháp, đặc biệt chọn các Bồ Tát bản hóa để phó thác, vì thế gọi là Biệt Phó Chúc. Còn trong phẩm Chúc Lụy kinh Pháp hoa, đức Phật trao phó kinh này cho tất cả các vị Bồ Tát thì gọi là Tổng Phó Chúc. Lại nữa, trong phẩm Thần Lực đức Phật Thích Ca cùng ngồi với đức Phật Đa bảo trong tháp Đa bảo mà Phó Chúc, cho nên gọi là Tháp nội Phó Chúc; còn ở phẩm Chúc Lụy thì khi Phật Thích Ca ra khỏi tháp Đa bảo mới Phó Chúc, nên gọi là Tháp ngoại Phó Chúc. Ngoài ra, trao cho Ca Sa, bình bát..., hoặc phó thác đại pháp cũng gọi là Phó Chúc. Trong Thiền Tông, khi thầy truyền trao ý nghĩa sâu xa của Phật Pháp cho Đệ Tử đều gọi là Phó Chúc, bởi thế Thiền Tông rất thường dùng từ ngữ này. [X. Lục tổ Pháp Bảo Đàn Kinh; Lịch đại Tam Bảo kí].