Phế Quyền Lập Thật

《廢權立實》 fèi quán lì shí

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Phế Tam Hiển Nhất. Phế bỏ các giáo giả tạm trước thời Pháp hoa để thiết lập Pháp Hoa Nhất Thừa. Tông Thiên thai chia giáo pháp của đức Phật nói trong 45 năm làm 5 thời, 8 giáo. Phế Quyền lậpThực tức là trong 4 thời trước khi Phật nói kinh Pháp hoa, đức Phật đã tùy cơ diễn nói các giáo Đại, Tiểu, Đốn, Tiệm, đó là vì Căn Tính Chúng Sinh không đồng đều, chưa khế hợp, nên Ngài chia Nhất Phật Thừa làm 3 thừa. Bởi vậy, các giáo trong 4 thời ấy chỉ là Pháp Môn Phương Tiện tạm thời, tùy nghi tạm đặt ra để giáo hóa mà thôi. Đến khi đức Phật nói kinh Pháp hoa thì Căn Tính của những Đối Cơ được Ngài giáo hóa đã khế hợp và Dung Thông làm một, có thể bỏ hẳn giáo pháp 3 thừa giả tạm của 4 thời trước mà hội về Nhất Thừa chân thực. Phẩm Phương Tiện kinh Pháp hoa quyển 1 (Đại 9, 10 thượng) nói: Bỏ hẳn các Phương Tiện, chỉ nói đạo Vô thượng. Trong Thiên Thai Tứ Giáo Nghi, ngài Đế Quán cho rằng Phế quyền lập thực là đồng nghĩa với Khai quyền hiển thực hoặc Hội tam qui nhất, cả 3 đều nói rõ về Khai Hiển của Tích môn Pháp hoa (tức 14 phẩm trước trong 28 phẩm của kinh Pháp hoa). Khai quyền hiển thực là nói về giáo thể, Phế quyền lập thực là nói về giáo dụng, còn Hội tam qui nhất thì nói về hành môn. Ngoài ra, trong Liên Hoa Tam Dụ(3 ví dụ về hoa sen), thì hoa rụng ví dụ cho Phế quyền, sen thành dụ cho Lập thực. Nghĩa là Thực giáo Nhất Thừa đã hiển bày thì Quyền giáo Tam Thừa tự nhiên phế bỏ. [X. Bài tựa Pháp Hoa Huyền Nghĩa Q. 1.; Pháp Hoa Huyền Nghĩa thích tiêm Q. 1.; Pháp Hoa Huyền Nghĩa thích tiêm giảng nghĩa Q. 1.; Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Chú Q.thượng]. (xt. Bản Tích Nhị Môn, Liên Hoa Tam Dụ).