Phật Túc Thạch
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Phật túc tích, Phật cước thạch. Phiến đá có khắc dấu bàn chân của đức Phật trong đó biểu thị diệu tướng bánh xe nghìn nan hoa. Trông thấy dấu bàn chân của đức Phật mà tham bái thì cũng giống như tham bái Sinh Thân thân của đức Phật, có thể trừ diệt vô lượng Tội Chướng. Ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật bản từ xưa đã có Phật Túc Thạch và phong tục sùng kính Phật Túc Thạch cũng rất phổ biến. Phật giáo Ấn Độ thời kì đầu, vì tôn kính nên không dám trực tiếp đắp vẽ tượng Phật mà chỉ khắc những hình ảnh gián tiếp tượng trưng đức Phật như bánh xe pháp, cây Bồ Đề, tháp, tòa cao và Phật Túc Thạch...Về sau được truyền đến Trung Quốc, Nhật bản thì Phật Túc Thạch cũng trở thành đối tượng Lễ Bái. Cứ theo Điều Hoa Thị Thành Ma Yết Đà Quốc trong Đại Đường Tây Vực Kí quyển 8, thì đức Phật có lưu lại dấu chân ở nước Ma yết đà, bề dài bàn chân khoảng 54 cm, bề ngang khoảng 22 cm, mỗi bàn chân đều có tướng bánh xe, 10 ngón chân đều có hoa văn. Hiện nay, ở cửa tháp Ba Hách Đặc (Phạm: Bharhùt) tại Ấn Độ có bức phù điêu Tam Đạo Bảo Giai đồ khắc dấu Chân Phật có hình bánh xe pháp. Trong Phật Túc Thạch đào được ở A Ma La Bà Đề (Phạm: Ama-ràvatì), thì thấy chính giữa bàn chân khắc hình bánh xe. Ngoài ra, còn có hình Tam Bảo Chương, hình chữ...(Vạn). Trong đó, loại hình bàn Chân Phật có hình bánh xe là kiểu xưa nhất, còn loại hình chữ Vạn, hình Tam Bảo Chương là những kiểu vẽ sau này, gần giống như loại được truyền ở Trung Quốc và Nhật bản hiện nay. Tại Trung Quốc, vào đời Đường, Vương huyền sách từng đi sứ Ấn Độ, khi về nước có mang theo Phật Túc Thạch mà ông đã vẽ ở thành Hoa thị về lưu truyền ở các nơi. Ngoài ra, còn có Phật túc đồ do ngài Huyền Trang mang về. [X. kinh Biệt dịch tạp a hàm Q. 13.; luận Phân Biệt Công Đức Q. 2., Pháp Uyển Châu Lâm Q. 14., 29; Lạc Dương Già Lam Kí Q. 5., Đại Đường Tây Vực Kí Q. 2., 3]. (xt. Thiên Bức Luân Tướng).