Phật Triết

《佛哲》 fú zhé

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Buttetsu, ?-?: còn gọi là Phật Triệt (, Buttetsu), vị tăng sang Nhật Bản dưới Thời Đại Nại Lương (, Nara), xuất thân vùng Lâm Ấp (, Nam bộ Việt Nam, Huế). Ông đến miền Nam Ấn Độ, theo học với Bồ Đề Tiên Na () và sở trường về Chú Thuật. Trong khoảng thời gian niên hiệu Khai Nguyên (, 713-741) nhà Đường, ông theo Bồ Đề Tiên Na sang Trung Quốc. Đến năm thứ 8 (736) niên hiệu Thiên Bình (), thể theo lời thỉnh cầu của vị tăng Nhật Bản sang nhà Đường là Lý Kính () và vị Chánh Sứ Đa Trị Tỉ Quảng (), ông cùng với thầy sang Nhật, đến trú tại Đại An Tự (, Daian-ji), chuyên tâm truyền dạy Nhã Nhạc Lâm Ấp, các điệu múa Bồ Tát, Bạt Đầu, v.v. Nhạc Lâm Ấp là một bộ môn trong Nhã Nhạc khúc; và tương truyền 7 khúc ngoại trừ Vạn Thu Nhạc () trong Lâm Ấp Bát Nhạc (, gồm Bồ Tát [], Lăng Vương [], Ca Lăng Tần [], An Ma [], Bội Lư [], Bạt Đầu [], Hồ Ẩm Tửu [] và Vạn Thu Nhạc []) đều do Phật Triết truyền vào. Nhạc Lâm Ấp từng được diễn tấu trong lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật (, năm thứ 4 [752] niên hiệu Thiên Bình Thắng Bảo []), Đại Hội Cúng Dường Tu Sửa Đầu Tượng Đại Phật () tại Đông Đại Tự (, Tōdai-ji), buổi khánh yến của triều đình hay những trai hội ở các tự viện, v.v. Đặc biệt trong lễ Hội Khai Nhãn Tượng Đại Phật, ông là vị thầy dạy các điệu múa cúng dường. Vào năm thứ 4 (809) niên hiệu Đại Đồng (), các nhạc sư Lâm Ấp thuộc Ban Nhã Nhạc được quy định 2 người; đến năm thứ 7 (883) niên hiệu Nguyên Khánh (), họ chọn ra 107 người nhạc công Lâm Ấp, cho tiến hành diễn tập tại Đại An Tự và hong phơi các nhạc cụ Lâm Ấp vào tháng 6 hằng năm. Bản dật văn Chí Ma Quốc Phong Thổ Ký () ghi lại việc Phật Triết có phục vụ trong tế điển ở Y Thế Thần Cung (, Ise Jingū) vào năm thứ 9 (737) niên hiệu Thiên Bình. Tuy nhiên, có nghi vấn cho rằng có thể đây không phải là loại hình ghi chép về phong thổ dưới thời Nại Lương mà thuộc loại ký lục khác.