Phật Danh Hội
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Phật danh Sám Hối. Pháp Hội đọc tụng kinh Phật danh và xưng niệm Danh Hiệu chư Phật Quá Khứ, hiện tại, vị lai để Sám Hối Diệt Tội. Loại Pháp Hội này đã thịnh hành ở Trung Quốc vào khoảng thế kỉ V,
VI. Từ đời Đông Tấn trở đi, bắt đầu là kinh Hiền Kiếp Thiên Phật danh và kinh Quán Dược Vương Dược Thượng nhị Bồ Tát, rồi lần lượt đến các loại Kinh Điển Phật danh khác được Phiên Dịch và biên tập. Vào thời kì đầu đã xuất hiện bộ kinh Phật danh gồm 12 quyển, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời Nguyên Ngụy (kinh này được thu vào cả 3 bản Đại tạng đời Tống, Nguyên, Minh), tổng cộng có 11.093 Danh Hiệu Phật và Bồ Tát. Đây là bộ Kinh Tán thán tất cả Danh Hiệu của chư Phật. [X. Vãng Sinh Luận chú Q.hạ; Phật Tổ Thống Kỉ Q. 39.; Pháp Uyển Châu Lâm Q. 86.].
VI. Từ đời Đông Tấn trở đi, bắt đầu là kinh Hiền Kiếp Thiên Phật danh và kinh Quán Dược Vương Dược Thượng nhị Bồ Tát, rồi lần lượt đến các loại Kinh Điển Phật danh khác được Phiên Dịch và biên tập. Vào thời kì đầu đã xuất hiện bộ kinh Phật danh gồm 12 quyển, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời Nguyên Ngụy (kinh này được thu vào cả 3 bản Đại tạng đời Tống, Nguyên, Minh), tổng cộng có 11.093 Danh Hiệu Phật và Bồ Tát. Đây là bộ Kinh Tán thán tất cả Danh Hiệu của chư Phật. [X. Vãng Sinh Luận chú Q.hạ; Phật Tổ Thống Kỉ Q. 39.; Pháp Uyển Châu Lâm Q. 86.].