Pháp Trân

《法珍》 fǎ zhēn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Vị tỉ khưu ni Trung Quốc, sống vào đời Nguyên, người đất Thục, họ Thôi, tên Pháp Trân, Pháp Danh Hoằng đạo. Vào cuối đời Nguyên, Ni sư sống ở Thành đô, nhận thấy Kinh Điển mất mát, Lưu Thông không được đầy đủ, vì thế Ni sư phát tâm khắc tạng Tích sa, liền chặt cánh tay mà đi khuyến hóa, Phật tử 4 phương thấy thế rất cảm động và nhiệt thành hưởng ứng đóng góp phần mình vào sự nghiệp khắc kinh. Công việc khuyến hóa của Ni sư ròng rã 30 năm mới viên mãn và việc khắc in Đại tạng Tích sa được hoàn thành. Nhưng, trong Trung Quốc Đại Tạng Kinh điêu khắc sử thoại (Lịch sử khắc Đại Tạng Kinh của Trung Quốc), ngài Đạo An cho rằng, Tạng kinh do Ni sư Pháp Trân khắc in không phải là tạng Tích sa mà là Kim khắc Đại Tạng Kinh. Tức vào năm Đại Định thứ18 (1178), bà Thôi Pháp Trân ở Lộ châu, tỉnh Sơn tây, khắc in lại Đại Tạng Kinh bản mới, dâng lên triều đình nhà Kim 1 bản, rồi Đăng Đàn Thụ Giới Tỉ khưu ni ở chùa Thánh an tại Yên kinh. Năm Đại Định 23 (1193), được vua ban cho áo đỏ và Tôn Hiệu Hoằng Giáo Đại Sư.Còn căn cứ theo Nguyên nhất thống chí Thuận thiên phủ chí quyển 1 và Phật giáo đại từ điển tập 8 của Vọng nguyệt Tín hanh, thì bà Thôi Pháp Trân và Ni sư Hoằng đạo là 2 người khác nhau, cả 2 người đều có sự tích Đoạn Tí mộ hóa (chặt cánh tay đi khuyến hóa). Nhưng Tạng do bà Thôi Pháp Trân khuyến hóa là Kim tạng, còn Tạng do Ni sư Hoằng đạo khuyến hóa là Tích sa tạng. Nguyên Nhân đưa đến sự lầm lẫn cho 2 người là 1, là vì bà Thôi Pháp Trân vốn Thụ Giới ở chùa Thánh an tại Yên kinh; khoảng đầu năm Hoàng thống (1141-1148), vua Hi tông nhà Kim ban tên cho chùa Thánh an là Đại Diên Thánh Tự. Tên mới này của chùa Thánh an trùng với tên của viện Tích Sa Diên Thánh. Vả lại, sự tích của bà Thôi Pháp Trân và Ni sư Hoằng đạo cũng giống nhau, cho nên 2 người thường bị lầm là một. Ngoài ra, theo Duyên sơn tam Đại Tạng Kinh Duyên Khởi của ngài Tùy thiên – người Nhật bản– thì sau khi 2 tạng kinh Nam Bắc ở đời Minh được hoàn thành, Bắc tạng được cất giữ ở trong cung vua, dân gian xin in rất khó, còn Nam tạng tuy có thể thỉnh in nhưng phí tổn khá lớn, nên việc Lưu Thông cũng không phải dễ. Trong tình hình ấy, có Ni sư Pháp Trân phát tâm đi khuyến hóa khắc in Đại Tạng Kinh bản Phương sách (tức bản đóng thành sách, chứ không xếp hoặc cuốn những tờ giấy như trước). Để thực hiện công việc lớn lao và khó khăn này. Ni sư bèn tự chặt cánh tay để tỏ quyết tâm và ròng rã 30 năm sự nghiệp mới hoàn thành. Đây là bộ Đại tạng Phương sách đầu tiên trong lịch sử khắc kinh. [X. Kim sử kỉ sự bản mạt Q. 30.; Minh khắc Phương sách đại Tạng Lục quang tổ tự, Phùng Mộng Trinh tự, Vương Thế Trinh tự; Pháp Trân ni sư Đoạn Tí khắc tạng khảo (Niệm sinh)].