Pháp Thượng Bộ

《法上部》 fǎ shàng bù

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Dharmottarìyà#. Pàli: Dhammuttariya, hoặc Dhammuttarika. Hán âm: Đàm Ma úy đa lợi ca, Đạt mô đa lê dữ, Đạt Ma uất đa lê. Cũng gọi Pháp Thắng bộ, Pháp thịnh bộ. Một trong 20 bộ của Tiểu Thừa, 1 trong các phái của Thượng Tọa Bộ. Theo luận Dị Bộ tông luân thì bộ này từ Độc Tử Bộ phân phái ra khoảng 300 năm sau đức Phật Nhập Diệt; giáo nghĩa đại khái cũng giống như giáo nghĩa của Độc Tử Bộ. Pháp Thượng là tên của Bộ chủ, lấy ý là Pháp đáng tôn kính, hoặc Pháp là cái ở trên mọi ngườitrong Thế Gian. Về Nguyên Nhân của sự phân phái là do bất đồng ý kiến đối với cách giải thích ý nghĩa bài kệ (Đại 49, 16 hạ): Dĩ giải thoát cánh đọa Đọa do tham phục hoàn Hoạch an hỉ sở lạc Tùy lạc hành chí lạc. (Dịch nghĩa đen: Giải thoát rồi lại đọa Đọa do tham trở lại Được yên mừng cái vui Theo vui đi đến vui). [X. Dị Bộ Tông Luân Luận Thuật Kí; Xuất Tam Tạng kí tập Q. 3.; Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương Q. 1., phần đầu]. (xt. Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ, Độc Tử Bộ).