Pháp Quyến
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Đồng môn, Đồng Tham, Pháp thuộc, Pháp Thân, Pháp Duyên, Đạo hữu, Đạo Cựu. Chỉ chung cho những người cùng tu Hành Đạo Phật, chủ yếu chỉ cho Huynh Đệ, Đệ Tử cùng theo 1 thầy, cùng trong 1 Tông Phái hoặc cùng học 1 Pháp Môn. Cứ theo Truyền Pháp đường bi trong Bạch thị trường khánh tập quyển 41 ghi, có người từng hỏi Thiền Sư Duy khoan (755- 817) ở chùa Hưng thiền về sự quan hệ đạo thuộc. Ngài Duy khoan nói rằng: Từ Tứ tổ Đạo Tín trở về sau, Chính Pháp tuy có các đời truyền nối, nhưng vẫn có Gia Phong và chi phái khác nhau, giống như ngành trên, ngành dưới ở Thế Gian. Còn về mối quan hệ Pháp Quyến giữa các Gia Phong, chi phái thì cũng giống như quan hệ chú bác, anh em của Thế Tục. Từ đầu đời Đường trở đi, giữa các phái có sự tranh chấp về dòng chính, dòng phụ. Trong các Tông Môn, Thiền Tông đặc biệt coi trọng mối quan hệ tương thừa giữa thầy và trò. Trong Pháp Quyến, những vị có tuổi tác, thành tích, chức vị cao, gọi là Thượng Pháp Quyến, còn những vị chỉ lớn hơn về tuổi tác thì gọi là Pháp Huynh. Ngoài ra, khi có vị nhận lệnh trụ trì 1 chùa viện, hàng Huynh Đệ Pháp Quyến của vị Tân trụ trì làm 1 lá sớ chúc mừng chùa viện ấy, gọi là Pháp Quyến sớ. Còn những dịp như ngày đầu năm mới, kết hạ, giải hạ... Pháp Quyến của vị Trụ trì đến lễ vị Trụ trì thì gọi là Pháp Quyến nhân sự. [X. điều Tôn túc thiên hóa trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q. 3.; Thiền uyển thanh qui Q. 6.; môn Xưng hô trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên; môn Văn sớ trong Thiền Lâm Tượng Khí Tiên].