Pháp Sai Biệt Tướng Vi Quá
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Cũng gọi Pháp Sai Biệt tương vi nhân (Phạm: Dharma-vizewa-viruddha-hetu). Tiếng dùng trong Nhân Minh. Là lỗi trái với ý nghĩa của danh từ sau (Hậu Trần), 1 trong 14 lỗi thuộc về Nhân, 1 trong 33 lỗi của Nhân Minh. Pháp chỉ cho Hậu Trần(danh từ sau)của Tông(mệnh đề), Sai Biệt chỉ cho tân từ(Hậu Trần) của Tông; đối lại với Tiền Trần(danh từ trước), tự tính của Tông mà đặc biệt gọi Hậu Trần là Sai Biệt. Trong Nhân Minh, về trường hợp này, nếu đem ý ngầm của mình mà trình bày 1 cách công khai trên luận thức thì sợ bị lỗi, cho nên người lập luận mới dùng những chữ mập mờ gián tiếp để bày tỏ, hòng lừa được đối phương (người địch luận), nhưng cuối cùng lại tự chuốc lấy lỗi về mình. Chẳng hạn như phái Số Luận đối với Đệ Tử Phật lập luận: Tông: Mắt là bị một cái khác dùng. Nhân: Vì có tính cách chứa chất mà thành. Dụ: Ví như đồ nằm. Vì học phái Số Luận thừa nhận bản ngã là 1 thực tại có thật, nhưng Đệ Tử Phật thì chủ trương Vô Ngã, không thừa nhận bản ngã. Cho nên trong luận thức trên, người lập luận không dám dùng từ bản ngã 1 cách trực tiếp, sợ mắc lỗi, mà dùng một cái khác để thay thế. Mục đích của người lập luận ở đây là thành lập 1 bản ngã, nên cố ý dùng những chữ mập mờ, mong phù hợp với ba tướng của Nhân, nhưng chính vì sự mập mờ ấy trong Hậu Trần của Tông mà trái với 2 tướng sau của Nhân, cho nên gọi là lỗi Pháp sai biệttương vi. [X.Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Sớ Q.hạ; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận nghĩa đoán; Nhân Minh Luận sớ thụy nguyên kí Q. 6.; Nhân Minh Nhập Chính Lí Luận Ngộ Tha môn thiển thích (Trần đại tề)]. (xt. Tứ Tương Vi, Nhân Minh).