Pháp Phảng

《法舫》 fǎ fǎng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(1904-1951) Danh Tăng Trung Quốc thời hiện đại, người huyện Hình, Tỉnh Hà bắc, họ Vương. Năm 18 tuổi (1921), sư theo Trưởng lão Thị ngạn ở núi Nam Nhạc Xuất Gia, sau đến chùa Pháp nguyên y vào Pháp sư Đạo Giai Thụ Giới Cụ Túc. Năm 1922, sư đến học tại viện Phật Học Vũ xương, được gần gũi Đại sư Thái Hư. Sau khi tốt nghiệp, sư lần lượt làm giáo sư ở viện Phật Học Vũ xương, viện giáo lí Bách lâm, viện giáo lí Hán Tạng, 3 lần làm chủ biên tạp chí Hải Triều Âm, chủ trì thư viện Phật Học uyển Thế Giới, trợ giúp Đại sư Thái Hư 1 cách đắc lực trong việc thiết lập bộ Nghiên cứu của viện Phật Học Thế Giới. Năm 1943, sư cùng với 2 vị Đạt cư và Bạch tuệ du học Ấn Độ, theo học tại trường Đại học Vishwa Bharati (International University). Ba năm sau, sư sang Tích lan, theo học ngài Kirwatatuduwe, Prasekene người Tích lan. Sư là vị tăng tài kiệt xuất trong hàng Xuất Gia, thông thạo các thứ tiếng Anh, Nhật, Phạm,Pàli... Sau, sư xúc tiến việc thiết lập viện Tam Tạng Pàli ở Tây an và việc trao đổi Học Tăng giữa Tích lan và Trung Quốc. Năm Dân quốc 36 (1947), sau khi Đại sư Thái Hư Thị Tịch, sư kế thừa trụ trì chùa Tuyết đậu. Năm Dân quốc 38 (1949), sư nhận chức trụ trì chùa Đại qui sơn ở Hồ nam, sau đó, đến Vũ xương xây tháp thờ Xá Lợi của Đại sư Thái Hư, dự định mở rộng thêm viện Phật Học Vũ xương. Nhưng, cục diện chính trị và xã hội thay đổi, chiến sự gia tăng cường độ, cảm thấy dự án của sư không thể thực hiện được, nên cuối cùng, sư Quyết Định trở sang Tích lan để nhận chức Giáo sư Đại học Tích lan, chủ giảng về môn Phật Học Trung Quốc. Khi có dịp, sư cũng đến Mã lai á, Tân gia ba và Thái lan giảng diễn Phật Pháp. Ngoài ra, sư còn dành thời gian biên soạn và ấn hành bộ Thái Hư Đại Sư Toàn Thư. Năm Dân quốc 40 (1951), sư lâm bệnh và tịch tại Tích lan, hưởng dương 48 tuổi. Sư để lại các tác phẩm: Duy Thức sử quan cập kì triết học, Nam truyền A Tì Đạt Ma nhiếp nghĩa luận.