Pháp Mẫn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
(579-645) Cao Tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, người Đơn dương, họ Tôn. Sư Xuất Gia năm 8 tuổi, lúc đầu theo học Thiền Sư Anh, sau, vào núi Mao sơn nghe Pháp sư Minh giảng Tam Luận. Năm 23 tuổi, sư nghe ngài Thực công, người Cao li, thuyết giảng. Sau khi ngài Thực công Thị Tịch, gặp lúc loạn lạc ở cuối đời Tùy, nên sư ẩn tu. Ba năm sau, sư đến Chiết giang, trụ ở chùa Lương an, giảng kinh Pháp hoa và Tam Luận. Niên hiệu Trinh quán năm đầu (627), sư trở về Đơn dương, giảng kinh Hoa nghiêm, kinh Niết Bàn. Ít lâu sau, sư lại đến Cối kê trụ ở chùa Tĩnh lâm giảng kinh Hoa nghiêm. Cứ theo sự khảo chứng của ngài Đạo đình đời Tống, sư phân Lập Giáo thuyết của 1 đời đức Phật làm 2 giáo:
1. Thích Ca Kinh: Chỉ cho các kinh Pháp hoa, Niết Bàn do ứng theo Căn Cơ mà thuyết giảng.
2. Lô Xá Na Kinh: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm, do thuận theo Pháp Tính mà thuyết giảng. Năm Trinh quán 19 (645), sư Thị Tịch ở chùa Nhất Âm, hưởng thọ 67 tuổi. Sư có tác phẩm: Hoa Nghiêm Kinh Sớ 7 quyển. [X. Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Q. 1.; Tục Cao Tăng Truyện Q. 15.]. (xt. Lô Xá Na Kinh).
1. Thích Ca Kinh: Chỉ cho các kinh Pháp hoa, Niết Bàn do ứng theo Căn Cơ mà thuyết giảng.
2. Lô Xá Na Kinh: Chỉ cho kinh Hoa nghiêm, do thuận theo Pháp Tính mà thuyết giảng. Năm Trinh quán 19 (645), sư Thị Tịch ở chùa Nhất Âm, hưởng thọ 67 tuổi. Sư có tác phẩm: Hoa Nghiêm Kinh Sớ 7 quyển. [X. Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương Q. 1.; Tục Cao Tăng Truyện Q. 15.]. (xt. Lô Xá Na Kinh).