Phân Chư Thừa

《分諸乘》 fēn zhū chéng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Đối lại: Dung Bản Mạt. Chia các thừa. Tức lấy Pháp Thể của Nhất Thừa làm gốc mà chia giáo pháp của đức Phật thành các thừa để thích nghi với các Căn Cơ của Chúng Sinh. Trong Hoa Nghiêm Ngũ Giáo Chương, ngài Pháp Tạng dùng Dung Bản Mạt (dung hòa gốc và ngọn với nhau) để giải thích Danh Nghĩa của Nhất Thừa đồng giáo và dùng Phân Chư Thừa (chia ra các thừa) để làm sáng tỏ Pháp Thể của Nhất Thừa đồng giáo. Danh Nghĩa của Đồng giáo lấy Nhất Thừa làm gốc (bản), Tam Thừa làm ngọn(mạt), dung hợp hòa đồng Tam Thừa, Nhất Thừa, gốc và ngọn với nhau, vì thế mà giải thích Danh Nghĩa của Đồng giáo là Dung Bản Mạt. Nhưng, Pháp Thể của Nhất Thừa đồng giáo là vì Phương Tiện dẫn dắt mà chia làm Nhị Thừa, Tam Thừa, cho đến vô lượng thừa, hoặc đem Nhất Thừa chia ra làm Nhị Thừa, Tam Thừa, cho đến vô lượng thừa để dẫn dụ, vì thế, các thừa được chia ra ấy chính là Pháp Thể của Nhất Thừa đồng giáo. Phân Chư Thừa còn được chia làm 6 lớp là: Nhất Thừa, Nhị Thừa, Tam Thừa, Tứ thừa, Ngũ Thừa và Vô lượng thừa. Nhất Thừa của lớp thứ nhất có 7 nghĩa: Ước pháp tướng giao tham, Ước nhiếp Phương Tiện, Ước sở lưu biện, Ước Thù Thắng môn, Ước giáo sự thâm tế, Ước Bát Nghĩa ý thú và Ước thập nghĩa Phương Tiện. Sự Phân Biệt 6 lớp, 7 nghĩa trên đây chính là 3 nghĩa: Sở lưu, Sở mục và Nhiếp Phương Tiện của Hoa Nghiêm Khổng Mục Chương. Trong đó, 7 nghĩa Nhất Thừa của lớp thứ nhất nương vào 2 Nghĩa Sở lưu và Nhiếp Phương Tiện, còn Nhị Thừa của lớp thứ 2 trở xuống cho đến Vô lượng thừa của lớp thứ 5... thì nương vào 1 Nghĩa Sở mục.Sở lưu có nghĩa là Pháp Môn của Tam Thừa là từ biển Nhất Thừa chảy ra. Nhiếp Phương Tiện có nghĩa là Pháp Môn Tam Thừa nhập vào Phương Tiện của Nhất Thừa. Nói cách khác, Pháp Môn Tam Thừa là từ Nhất Thừa mà ra, lại chính là Phương Tiện của Nhất Thừa, cho nên gọi là Nhất Thừa đồng giáo. Đó là điểm trọng yếu của 7 nghĩa Nhất Thừa. Còn Sở mục thì có nghĩa là khi nói về pháp Tam Thừa thì không phải lấy các Nghĩa Sở lưu và Nhiếp Phương Tiện làm Nhất Thừa, mà lấy ngay cái đương thể vốn có của Tam Thừa làm Nhất Thừa. [X. Hoa nghiêm Nhất Thừa giáo nghĩa Phân Tề chương Q. 1.].