Phân Biệt Tương Tự Quá Loại

《分別相似過類》 fēn bié xiāng sì guò lèi

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Tiếng dùng trong Nhân Minh. Chỉ cho lỗi thứ 3 trong 14 lỗi của Nhân thuộc Tự Năng Phá trong luận thức Nhân Minh do ngài Túc mục –Tổ khai sáng của Nhân Minh cũ– thành lập. Trong đối luận Nhân Minh, kẻ địch luận (người vấn nạn) vì muốn phá luận thức (lượng) của người lập luận, nên đối với Đồng Dụ, cưỡng dùng sự Sai Biệt của vật tính để công kích, bác bỏ luận thức của đối phương. Nhưng vì luận thức của người lập luận là đúng đắn, nên kẻ địch luận lại tự chuốc lấy lỗi Phân Biệt Tương Tự Quá Loại (lỗi Phân Biệt sai lầm) này. Như Thắng luận sư lập luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vì là do sự cần dũng không gián đoạn mà phát sinh (tức do sự tác động của ý chí mà phát sinh). Đồng Dụ: Như cái bình. Dị Dụ: Như Hư Không. Đối lại, Thanh Luận(chủ trương âm thanh là vô thủy vô chung) lập luận thức: Tông: Âm thanh là thường (tức vô thủy vô chung). Nhân: Vì nó không thể bị thiêu đốt, không thể nhìn thấy nó. Đồng Dụ: Như Hư Không. Dị Dụ: Như cái bình. Rồi Thanh Luận sư phân tích về tính chất sai khác của các vật mà cho rằng cái bình có thể thiêu đốt được, có thể thấy được, còn âm thanh thì không thể thiêu đốt được, không thể thấy được và kết luận: Nếu cái có thể thiêu đốt được, có thể thấy được là vô thường, thì cái không thiêu đốt được, không thấy được là thường, đồng thời, lấy cái Nghĩa Không thể thiêu đốt được, không thể thấy được là chung cho cả tâm, Tâm Sở vô thường và Hư Không Thường Trụ mà cưỡng gán cho đối phương là đã vi phạm lỗi Bất Định, nhưng thực thì chính kẻ địch luận đã vi phạm lỗi Phân Biệt tương tự này. Lỗi này tương đương với Trường tương nạn thứ 3 trong Điên đạo nạn nói trong phẩm Đạo nạn của luận Như thực. [X. Nhân Minh Luận sớ thụy nguyên kí Q. 8.; Nhân Minh Luận lí khái luận (Pháp phong)]. (xt. Thập Tứ Quá Loại, Nhân Minh).