Phạm Chí
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm: Bràhmaịa.
I. Phạm Chí. Hán âm: Bà La Môn, Phạm sĩ. Hán dịch: Tịnh duệ, Tịnh hạnh. Cũng gọi Tịnh hạnh giả, Tịnh hạnh Phạm Chí. Chỉ cho người Bà La Môn, sống thanh tịnh, cầu được sinh về cõi Phạm Thiên. Theo Huyền Ứng Âm Nghĩa quyển 18 thì Bà La Môn lẽ ra phải đọc là Bà La hạ ma noa, chỉ cho người tu tập theo pháp của Phạm Thiên. Bà La Môn tự nhận mình sinh ra từ miệng Phạm Thiên, là dòng họ cao quí nhất trong 4 dòng họ, cho nên đặc biệt lấy tên là Phạm. Theo Du Già Luận Kí quyển 19 phần đầu thì Phạm là tiếng Ấn Độ, Hán dịch là Tịch Tĩnh, Niết Bàn; Chí là tiếng Trung Quốc, quyết chí cầu Phạm, cho nên ghép chung 2 chữ lại thành là Phạm Chí (nửa Ấn nửa Tàu). Các Phạm Chí thấy ghi rải rác trong Kinh Điển như Phạm Chí Trường trảo, Phạm Chí Loa kế... đều là Bà La Môn, sau trở thành Đệ Tử nổi tiếng của đức Phật. Ngoài ra, con gái của Phạm Chí, hoặc cô gái tu theo Đạo Phạm, gọi là Phạm nữ. [X. Kinh Mã ấp trong Trung a hàm Q. 48.; kinh Tăng nhất a hàm Q. 9.; kinh Pháp cú Q.hạ; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 4.]. (xt. Bà La Môn).
II. Phạm Chí. Từ gọi chung tất cả những người Xuất Gia của Ngoại Đạo Ấn Độ. Luận Đại trí độ quyển 56 (Đại 25, 461 trung) nói: Phạm Chí chỉ cho tất cả những người Xuất Gia của Ngoại Đạo. Hoặc người chỉ theo Đạo Phạm mà không Xuất Gia, cũng gọi là Phạm Chí.
III. Phạm Chí. Đối lại với Ni kiền mà gọi Bà La Môn Tại Gia là Phạm Chí. Theo Pháp Hoa Văn Cú Kí quyển 9 thượng, người Tại Gia thờ Phạm thì gọi là Phạm Chí, còn Ngoại Đạo Xuất Gia thì gọi chung là Ni kiền. Nhưng Pháp hoa kinh yếu giải quyển 5 thì ngược lại cho rằng Ngoại Đạo Tại Gia gọi là Ni kiền, còn Ngoại Đạo Xuất Gia thì gọi là Phạm Chí.
I. Phạm Chí. Hán âm: Bà La Môn, Phạm sĩ. Hán dịch: Tịnh duệ, Tịnh hạnh. Cũng gọi Tịnh hạnh giả, Tịnh hạnh Phạm Chí. Chỉ cho người Bà La Môn, sống thanh tịnh, cầu được sinh về cõi Phạm Thiên. Theo Huyền Ứng Âm Nghĩa quyển 18 thì Bà La Môn lẽ ra phải đọc là Bà La hạ ma noa, chỉ cho người tu tập theo pháp của Phạm Thiên. Bà La Môn tự nhận mình sinh ra từ miệng Phạm Thiên, là dòng họ cao quí nhất trong 4 dòng họ, cho nên đặc biệt lấy tên là Phạm. Theo Du Già Luận Kí quyển 19 phần đầu thì Phạm là tiếng Ấn Độ, Hán dịch là Tịch Tĩnh, Niết Bàn; Chí là tiếng Trung Quốc, quyết chí cầu Phạm, cho nên ghép chung 2 chữ lại thành là Phạm Chí (nửa Ấn nửa Tàu). Các Phạm Chí thấy ghi rải rác trong Kinh Điển như Phạm Chí Trường trảo, Phạm Chí Loa kế... đều là Bà La Môn, sau trở thành Đệ Tử nổi tiếng của đức Phật. Ngoài ra, con gái của Phạm Chí, hoặc cô gái tu theo Đạo Phạm, gọi là Phạm nữ. [X. Kinh Mã ấp trong Trung a hàm Q. 48.; kinh Tăng nhất a hàm Q. 9.; kinh Pháp cú Q.hạ; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 4.]. (xt. Bà La Môn).
II. Phạm Chí. Từ gọi chung tất cả những người Xuất Gia của Ngoại Đạo Ấn Độ. Luận Đại trí độ quyển 56 (Đại 25, 461 trung) nói: Phạm Chí chỉ cho tất cả những người Xuất Gia của Ngoại Đạo. Hoặc người chỉ theo Đạo Phạm mà không Xuất Gia, cũng gọi là Phạm Chí.
III. Phạm Chí. Đối lại với Ni kiền mà gọi Bà La Môn Tại Gia là Phạm Chí. Theo Pháp Hoa Văn Cú Kí quyển 9 thượng, người Tại Gia thờ Phạm thì gọi là Phạm Chí, còn Ngoại Đạo Xuất Gia thì gọi chung là Ni kiền. Nhưng Pháp hoa kinh yếu giải quyển 5 thì ngược lại cho rằng Ngoại Đạo Tại Gia gọi là Ni kiền, còn Ngoại Đạo Xuất Gia thì gọi là Phạm Chí.