Niết Bàn

《涅槃》 niè pán

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: nirvāṇa, Pāli: nibbāna: âm dịch là Nê Hoàn () Niết Bàn Na (), Niết Lệ Bàn Na (); ý dịch là Diệt (), Diệt Độ (), Tịch (), Tịch Diệt (). Theo nguyên ngữ tiếng Sanskrit nirvāṇa, nó có nghĩa là thổi tiêu đi, cho nên nó nói lên trạng thái thổi tiêu tan lửa Phiền Não của Ba Độc Tham Sân Si. Về định nghĩa của từ này, trong các Kinh A Hàm (Pāli: Āgama, ) thì có câu định hình là diệt tận Tham Dục, sân nhuế và Ngu Si. Tỷ dụ như trong Kinh Tạp A Hàm 19 () có đoạn rằng: "Vân hà vi Niết Bàn ? Xá Lợi Phất ngôn: Niết Bàn giả, Tham Dục vĩnh tận, sân nhuế vĩnh tận, Ngu Si vĩnh tận, Nhất Thiết chư Phiền Não vĩnh tận, thị danh Niết Bàn (, Thế nào gọi là Niết Bàn ? Xá Lợi Phất bảo rằng: Niết Bàn là hết sạch Tham Dục, hết sạch sân nhuế, hết sạch Ngu Si. Đó gọi là Niết Bàn)". Đến thời kỳ Bộ Phái Phật Giáo thì Niết Bàn được chia thành 2 loại là Hữu Dư Niết Bàn (, hay Hữu Dư Y Niết Bàn) và Vô Dư Niết Bàn (, hay Vô Dư Y Niết Bàn). Hữu Dư Niết Bàn là trạng thái mà người giác ngộ đã diệt tận Phiền Não nhưng nhục thân vẫn còn sống. Vô Dư Niết Bàn là trạng thái mà người giác ngộ đã diệt tận luôn nhục thân của mình sau khi chết. Từ quan niệm đó, sự qua đời của đức Phật được gọi là Niết Bàn hay nhập Niết Bàn, Viên Tịch, v.v.; cho nên Kinh Điển mà đức Phật Thuyết trước khi nhập Niết Bàn thì được gọi là Niết Bàn Kinh () hay Đại Bát Niết Bàn Kinh (). Trong Thành Duy Thức Luận 10 () lại chia Niết Bàn thành 4 loại là Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn (), Hữu Dư Y Niết Bàn ( ), Vô Dư Y Niết Bàn ()Vô Trú Xứ Niết Bàn (). Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn là chỉ về trạng thái mà Tâm Tánh của hết thảy Chúng Sanh xưa nay vốn thanh tịnh. Vô Trú Xứ Niết Bàn là cõi Niết Bàn lý tưởng của Đại Thừa, chỉ về trạng thái của chư Phật cũng như Bồ Tát chẳng trú vào Sanh Tử, cũng chẳng nương vào Niết Bàn, mà cho rằng Sanh Tử chính là Niết Bàn, với từ bi và trí tuệ đầy đủ, sống Tùy Duyên Tự Tại, Nhậm Vận vô tác. Tuệ Trung Thượng Sĩ (, 1230-1291) của Việt Nam có câu: “Niết Bàn tâm tịch tịch, Sanh Tử hải trùng trùng, Bất Sinh hoàn bất diệt, vô thỉ diệc vô chung (, Niết Bàn tâm vắng lặng, Sanh Tử biển trùng trùng, chẳng sanh lại chẳng diệt, không trước lại không sau).”