Như Lai

《如來》 rú lái

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s, Pāli: tathāgata: âm dịch là Đa Đà A Già Đà () Đa Tha A Già Độ (), Đa Đà A Già Độ (), Đát Tát A Kiệt (), Đát Tha Nga Đa (), Đa A Kiệt (); còn gọi là Như Khứ (), là một trong 10 Danh Hiệu của đức Phật, tôn xưng của vị Phật. Nếu phân tích Phạn ngữ tathāgata, có 2 loại: tathā-gata (, Như Khứ), tathā-āgata(, Như Lai). Như Khứ có nghĩa là cỡi đạo Chơn Như mà đạt đến quả Phật Niết Bàn. Theo cách giải thích sau có nghĩa là do chơn lý mà đến để thành chánh giác. Đức Phật cỡi chân lý mà đến, do Chơn NhưHiện Thân, nên được gọi là Như Lai. Một số Kinh Điển giải thích về thuật ngữ này như sau. Trong Thanh Tịnh Kinh () của Trường A Hàm () quyển 12 có đoạn: “Phật ư Sơ Dạ thành tối chánh giác, cập mạt Hậu Dạ, ư kỳ trung gian hữu sở Ngôn Thuyết, tận giai Như Thật, cố danh Như Lai; phục thứ, Như Lai sở thuyết như sự, sự như sở thuyết, cố danh Như Lai (, đức Phật vào đầu đêm thành chánh giác tối thượng, cho đến cuối đêm, trong khoảng thời gian giữa ấy, những lời nói của ngài, hết thảy đều Như Thật, nên được gọi là Như Lai; lại nữa, các việc do Như Lai nói ra, việc đúng như lời nói, nên được gọi là Như Lai).” Đại Trí Độ Luận () quyển 24 thì định nghĩa là: “Như Thật đạo lai, cố danh vi Như Lai (, đến với đạo Như Thật, nên có tên là Như Lai)”; hoặc quyển 55 thì cho là: “Hành Lục Ba La Mật, đắc Thành Phật đạo, … cố danh Như Lai (、… , thực hành Sáu Ba La Mật, Chứng Thành Phật Đạo, … nên có tên là Như Lai).” Hay như theo Thành Thật Luận () quyển 1 là: “Như Lai giả, thừa Như Thật đạo lai thành chánh giác, cố viết Như Lai (, Như Lai là mang đạo Như Thật đến đây và thành chánh giác, nên được gọi là Như Lai).” Chuyển Pháp Luân Luận () giải thích rằng: “Như Thật nhi lai, cố danh Như Lai; … Niết Bàn danh Như, tri giải danh Lai, Chánh Giác Niết Bàn cố danh Như Lai (、… , Như Thật mà đến, nên có tên là Như Lai; Niết Bàn gọi là Như, hiểu biết gọi là Lai; vì vậy Chánh Giác Niết Bàn được gọi là Như Lai).” Đại Nhật Kinh Sớ () cũng có giải thích tương tợ như vậy: “Như chư Phật Thừa Như Thật đạo lai thành chánh giác, kim Phật diệc Như Thị lai, cố danh Như Lai (, như các đức Phật mang đạo Như Thật đến đây và thành chánh giác, nay Phật cũng đến như vậy, nên có tên là Như Lai).” Bí Tạng Ký Bổn () của Mật Giáo thì cho rằng: “Thừa như nhi lai cố viết Như Lai (, cỡi đạo Như Thật mà đến nên có tên là Như Lai).” Trong tác phẩm Giáo Hành Tín Chứng () quyển 4 của Thân Loan (, Shinran, 1173-1262) Nhật Bản có định nghĩa về Như Lai rằng: “Chơn Như tức thị Nhất Như, nhiên giả Di Đà Như Lai tùng Như Lai sanh Thị Hiện Báo Ứng Hóa chủng chủng thân giả (, Chơn Như tức là Nhất Như, tuy nhiên, Di Đà Như Lai từ Như Lai sanh ra, Thị Hiện các loại thân như Báo Thân, Ứng Thân, Hóa Thân).” Ngoài ra, bản chú giải trường bộ kinh bằng tiếng Pāli là Sumaṅgala-vilāsinī có nêu 9 nghĩa của Như Lai, hay Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận () thì giải thích 11 nghĩa, v.v. Tại Chánh Điện của Dũng Tuyền Tự (), thuộc Phúc Châu (), Tỉnh Phúc Kiến (), Trung Quốc có câu đối rằng: “Bảo Tướng hiện Như Lai nhân chứng Bồ Đề không Ngũ Uẩn, kim thân Quán Tự Tại tu La Hán ngộ Tam Thừa (, tướng báu hiện Như Lai nhân chứng Bồ Đề không Năm Uẩn, thân vàng Quán Tự Tại tu La Hán ngộ Ba Thừa).” Hay như tại Huệ Tế Tự () thuộc Phổ Đà Sơn (), Tỉnh Triết Giang () cũng có câu đối: “Tự Tại tự quán Quán Tự Tại, Như Lai như kiến kiến Như Lai (, Tự Tại tự quán Quán Tự Tại, Như Lai như thấy thấy Như Lai).”