Nhị Lợi Chân Thật
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chỉ cho Tự lợi chân thực và Lợi tha chân thực.Trong phần Tán Thiện nghĩa của Quán Kinh Sớ, ngài Thiện Đạo có giải thích về Chí thành tâm, cho rằng chí là chân, thành là thực. Chân thực có 2 thứ: Tự lợi và lợi tha. Tự lợi chân thực lại chia làm 2:
1. Trong Tâm Chân thực ngăn ngừa, xả bỏ các việc xấu ác của mình và người, đi đứng ngồi nằm lúc nào cũng nghĩ rằng mình đang làm giống như tất cả các vị Bồ Tát đang làm.
2. Trong Tâm Chân thực siêng tu các điều thiện cho mình, cho người. Về điểm này, 3 nghiệp thân, khẩu, ý có 6 điều trọng yếu là: a) Khẩu Nghiệp: Trong Tâm Chân thực, khen ngợi đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài. b) Khẩu Nghiệp: Trong Tâm Chân thực, nhàm chán những nỗi khổ đau, xấu xa thuộc về y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi, 6 đường. c) Thân Nghiệp: Trong Tâm Chân thực, thường chắp tay, Kính Lễ, cúng dường đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài. d) Thân Nghiệp: Trong Tâm Chân thực, xả bỏ y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi Sinh Tử này. e) Ý nghiệp: Trong Tâm Chân thực, quán xét, nhớ tưởng đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài như đang hiện ở trước mắt.g) Ý nghiệp: Trong Tâm Chân thực, nhàm chán, vứt bỏ y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi Sinh Tử này. Trong Tâm Chân thực cần phải loại trừ 3 nghiệp Bất Thiện, nếu 3 nghiệp thiện Phát Khởi thì phải thực hành, bất luận trong, ngoài, sáng, tối đều phải chân thực, cho nên gọi là Chí thành tâm. Nhưng điều đáng tiếc là trong sách có nêu ra Nhị Lợi chân thực, mà ngài Thiện Đạo chỉ giải thích phần Tự lợi chân thực chứ không thấy giải thích phần Lợi tha chân thực, cho nên đã nảy sinh nhiều cách giải thích khác nhau về vấn đề này. Trong Tán Thiện nghĩa truyền thông kí và Lược sao, ngài Lương Trung của Nhật bản có nói rõ về điều này, cho rằng ngài Thiện Đạo nêu ra Nhị Lợi mà chỉ giải nghĩa phần Tự lợi, chứ không nói đến Lợi tha, là vì, theo ngài, nếu đã biết nghĩa tự lợi thì nghĩa lợi tha tự nhiên cũng rõ, cho nên không cần nói lại.
1. Trong Tâm Chân thực ngăn ngừa, xả bỏ các việc xấu ác của mình và người, đi đứng ngồi nằm lúc nào cũng nghĩ rằng mình đang làm giống như tất cả các vị Bồ Tát đang làm.
2. Trong Tâm Chân thực siêng tu các điều thiện cho mình, cho người. Về điểm này, 3 nghiệp thân, khẩu, ý có 6 điều trọng yếu là: a) Khẩu Nghiệp: Trong Tâm Chân thực, khen ngợi đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài. b) Khẩu Nghiệp: Trong Tâm Chân thực, nhàm chán những nỗi khổ đau, xấu xa thuộc về y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi, 6 đường. c) Thân Nghiệp: Trong Tâm Chân thực, thường chắp tay, Kính Lễ, cúng dường đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài. d) Thân Nghiệp: Trong Tâm Chân thực, xả bỏ y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi Sinh Tử này. e) Ý nghiệp: Trong Tâm Chân thực, quán xét, nhớ tưởng đức Phật A di đà và y báo, chính báo của Ngài như đang hiện ở trước mắt.g) Ý nghiệp: Trong Tâm Chân thực, nhàm chán, vứt bỏ y báo, chính báo của mình và người trong 3 cõi Sinh Tử này. Trong Tâm Chân thực cần phải loại trừ 3 nghiệp Bất Thiện, nếu 3 nghiệp thiện Phát Khởi thì phải thực hành, bất luận trong, ngoài, sáng, tối đều phải chân thực, cho nên gọi là Chí thành tâm. Nhưng điều đáng tiếc là trong sách có nêu ra Nhị Lợi chân thực, mà ngài Thiện Đạo chỉ giải thích phần Tự lợi chân thực chứ không thấy giải thích phần Lợi tha chân thực, cho nên đã nảy sinh nhiều cách giải thích khác nhau về vấn đề này. Trong Tán Thiện nghĩa truyền thông kí và Lược sao, ngài Lương Trung của Nhật bản có nói rõ về điều này, cho rằng ngài Thiện Đạo nêu ra Nhị Lợi mà chỉ giải nghĩa phần Tự lợi, chứ không nói đến Lợi tha, là vì, theo ngài, nếu đã biết nghĩa tự lợi thì nghĩa lợi tha tự nhiên cũng rõ, cho nên không cần nói lại.