Nhất Thiết Trí Trí

《一切智智》 yī qiè zhì zhì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: sarvajñatā-jñāna[thuật]: trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ. Để Phân Biệt với Nhất Thiết Trí của Thanh VănDuyên Giác, trí tuệ của đức Phật được gọi là Nhất Thiết Trí Trí. Đại Nhật Kinh Sớ () 1 có đoạn rằng: “Phạn vân Tát Bà Nhã Na tức thị Nhất Thiết Trí, kim vị Nhất Thiết Trí Trí, tức thị trí trung chi trí dã (, tiếng Phạn là Tát Bà Nhã Na [sarva-jñāna] tức là Nhất Thiết Trí, nay nói Nhất Thiết Trí Trí là trí tuệ trong các Loại Trí tuệ)”. Cùng kinh trên lại nói rằng: “Nhất Thiết Trí Trí, Như Thật liễu tri, danh vi Nhất Thiết Trí Giả (, Nhất Thiết Trí Trí là hiểu biết Như Thật, nên được gọi là người có trí tuệ hiểu biết hết thảy)”. Trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ giống như cõi Hư Không, rời xa hết thảy các Phân Biệt, hay giống như đại địa là nơi để cho tất cả Chúng Sanh nương tựa, hoặc như Thế Giới lửa thiêu cháy rụi hết thảy những loại củi vô trí. Nó cũng giống như Thế Giới gió, trừ khử hết tất cả các bụi bặm Phiền Não, hay giống như cõi nước, là nơi cho tất cả Chúng Sanh vui mừng nương tựa. Trí này lấy Bồ Đề Tâm làm nhân, lấy tâm Đại Bi làm căn, lấy Phương Tiện làm Cứu Cánh. Người mà lấy Bồ Đề Tâm làm nhân được gọi là vị Hành Giả biết tự tâm mình Như Thật. Người mà lấy tâm Đại Bi làm căn được gọi là vị Hành Giả Phát Nguyện thương xót, cứu độ nỗi khổ của Chúng Sanh và lấy đó làm niềm vui cho mình. Người mà lấy Phương Tiện làm Cứu Cánh được gọi là quả của trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ, tức lấy hạnh lợi tha để Hành Trì. Nhân Vương Kinh () quyển trung có dạy rằng: “Tự tánh thanh tịnh, danh Bản Giác tánh, tức thị chư Phật Nhất Thiết Trí Trí (, tự tánh thanh tịnh là giác ngộ xưa nay, tức là trí tuệ tối cao trong tất cả các trí tuệ của các đức Phật)”.